trang chính |   lời giới thiệu  |   sống lời chúa  |   truyện ngắn |  liên lạc




Nguyễn Trung Tây, SVD
đức giêsu phục sinh
xác người? xác ma?

Đây không phải là lần đầu tiên những người môn đệ không nhận ra Đức Giêsu Phục Sinh. Tin Mừng Phục Sinh ghi nhận có ba trường hợp những người môn đệ thân tín của Đức Giêsu không nhận diện ra dung mạo của Ngài. Trường hợp thứ nhất xảy ra với Maria Mađalêna bên ngôi mộ trống vào sáng sớm Phục Sinh đầu tiên (Gioan 20:1-18). Trường hợp thứ hai liên quan đến câu chuyện trên đường Emmau (Luca 24:13-35). Trường hợp thứ ba xảy ra với bẩy người môn đệ ruột thịt của Đức Giêsu bên bờ Biển Hồ Galilê (Gioan 21:1-14)...





Vào một buổi sáng mùa xuân, trên con đường dài nối liền kinh thành Giêrusalem với ngôi làng Emmau, theo như thánh sử Luca có hai người môn đệ đang đi với nhau. Thật là bất ngờ, Đức Kitô Phục Sinh hiện ra, và Ngài chuyện trò, sánh bước, đồng hành với họ trong một khoảng thời gian khá dài. Nhưng cả hai người môn đệ đều không nhận ra giọng nói và khuôn mặt của người đàn ông lạ mặt. Mãi đến giây phút người khách bẻ bánh (mì), họ mới nhận ra người lữ khách chính là Thầy mình. Nhưng ngay khi đó, Đức Giêsu Phục Sinh biến mất trước hai khuôn mặt còn đang kinh ngạc bởi hình ảnh họ vừa tận mắt chứng kiến.

            Đây không phải là lần đầu tiên những người môn đệ không nhận ra Đức Giêsu Phục Sinh. Tin Mừng Phục Sinh ghi nhận có ba trường hợp những người môn đệ thân tín của Đức Giêsu không nhận diện ra dung mạo của Ngài. Trường hợp thứ nhất xảy ra với Maria Mađalêna bên ngôi mộ trống vào sáng sớm Phục Sinh đầu tiên (Gioan 20:1-18). Trường hợp thứ hai liên quan đến câu chuyện trên đường Emmau (Luca 24:13-35). Trường hợp thứ ba xảy ra với bẩy người môn đệ ruột thịt của Đức Giêsu bên bờ Biển Hồ Galilê (Gioan 21:1-14). Trong cả ba trường hợp vừa nhắc đến, tất cả những người môn đệ của Đức Giêsu thoạt tiên đều không nhận ra Thầy của mình. Mãi đến khi Đức Kitô Phục Sinh mở miệng gọi tên, hoặc bẻ bánh trao cho hai người môn đệ, hoặc sau khi lưới của bẩy người ngư phủ Biển Hồ ngập tràn những cá, mọi người mới nhận ra Đức Giêsu Phục Sinh.  

            Trong tâm tình học hỏi Lời Chúa, bài tham khảo này sẽ chú trọng vào hai điểm:

            (1). Tại sao các môn đệ ruột thịt không nhận ra Đức Giêsu sau khi Ngài từ cõi chết sống dậy?

            (2). Đức Giêsu Phục Sinh có còn mang hình thể của người phàm nữa hay không? Hay nói một cách khác, thực sự ra, chuyện chi đã xẩy ra với Đức Giêsu sau khi Ngài đã sống lại?

 

            I. Tin Mừng Phục Sinh

            A. Đức Giêsu Phục Sinh và Maria Mađalêna (Gioan 21:1-18)

            Theo như Gioan 21:1-18, vào buổi sáng ngày thứ nhất trong tuần, Maria Mađalêna một mình đi tới ngôi mộ Đức Giêsu. Khám phá ra tảng đá che cửa ngôi mộ đá hé mở, Maria Mađalêna chạy về nhà thông báo cho Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu yêu mến bản tin bất ngờ. Phêrô và người môn đệ kia cùng chạy ra ngôi mộ. Nhưng rất tiếc cả hai cũng không khám phá ra điều chi khác hơn ngoài ngôi mộ trống và những tấm khăn liệm xác. Sau cùng cả hai cất bước rời ngôi mộ trống bỏ đi về nhà. Nhưng Maria Mađalêna không về. Cô vẫn còn nấn ná một mình bên ngôi mộ đá. Cô khóc. Vừa khóc, cô vừa nghiêng người nhìn vào trong ngôi mộ. Thật là bất ngờ, cô nhìn thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở băng đá nơi đã đặt thi hài Đức Giêsu. Thiên sứ trời cao cất giọng hỏi Maria,

            — Tại sao cô khóc?

            Maria Mađalêna trả lời,

            — Người ta đã lấy mất Thầy tôi. Và chúng tôi không biết họ dấu Thầy tôi ở đâu?

            Nói vừa xong, Maria quay lại. Cô nhìn thấy Đức Kitô Phục Sinh. Nhưng Maria không nhận ra người đang đối diện với mình chính là Đức Giêsu. Đức Kitô Phục Sinh cất giọng hỏi Maria,

            — Tại sao cô khóc? Cô đang tìm kiếm ai?

            Tưởng Đức Kitô là người làm vườn, Maria nói,

            — Nếu ông đã mang Ngài đi, xin nói cho tôi biết ông đã để xác Ngài ở đâu. Tôi sẽ đem Ngài về.

            Ngay lúc đó Đức Giêsu Phục Sinh mở miệng gọi tên của Maria Mađalêna,

            — Maria...

            Lần này Maria không còn lầm lẫn người đối diện với người làm vườn nữa. Cô đáp trả lời gọi của Đức Kitô Phục Sinh,

            — Lạy Thầy.

 

            B. Maria Mađalêna

            Bài Tin Mừng Phục Sinh theo thánh sử Gioan 20:1-18 trình bày một chi tiết khá lạ về Đức Kitô Phục Sinh. Bên ngôi mộ trống của ngày hôm đó Maria Mađalêna thoạt tiên không nhận ra Thầy của mình. Cô nhìn và nghe thấy tiếng Ngài, nhưng lại lầm lẫn Đức Kitô với người làm vườn, một người chưa bao giờ Maria gặp gỡ trong đời.

            1. Người Sơ Giao

            Để giải thích lý do tại sao Maria Mađalêna không nhận ra Thầy của mình, độc giả có thể đặt nghi vấn bởi vì cô và Đức Giêsu chỉ là hai người sơ giao, không có nhiều liên hệ mật thiết.

            Giả thiết này không đứng vững, bởi tự nó không được xây dựng trên những căn bản vững chắc để giải thích lý do tại sao Maria không nhận ra Đức Kitô. Thật sự ra, Maria chính là một trong những người môn đệ thân cận của Đức Giêsu. Cô đã tham gia vào công cuộc truyền giáo với Đức Giêsu kể từ khi Ngài còn đang giảng dậy trên miền Bắc Galilê. Khi Ngài giã từ Galilê, Maria và một số nữ môn đệ khác cũng bỏ phương Bắc Galilê đi theo Thầy xuống phương Nam Galilê (Luca 8:1-3). Hơn thế nữa, Maria Mađalêna cũng chính là một trong những người môn đệ đã hiện diện dưới chân cây thập giá trên ngọn đồi Gôlgôtha vào buổi chiều ngày thứ Sáu hôm đó. Đặc biệt vào buổi sáng Chúa Nhật Phục Sinh trong tuần, Maria Mađalêna là một trong những người phụ nữ đầu tiên đi ra ngôi mộ đá để tẩm liệm xác của Đức Giêsu.[1]

 

            2. Tâm Lý Phục Sinh và Nước Mắt Phụ Nữ

            Cũng có thể độc giả Kinh Thánh nghĩ trong khi Đức Kitô bất ngờ xuất hiện bên ngôi mộ trống, Maria đang khóc. Những hạt nước mắt đong đầy khóe mắt của Maria đã hoàn toàn che mờ hình dạng người đàn ông đang đứng bên ngôi mộ trống.

            Nước mắt là một giả thiết hợp lý để giải thích lý do tại sao Maria không nhận ra Thầy của mình. Và cũng không nên gạt qua một bên hiện tượng tâm lý của buổi sáng Phục Sinh đầu tiên. Vào buổi sáng Chúa Nhật ngày hôm đó, không có người nào trên thế gian lại mang Mầu Nhiệm Phục Sinh ra để giải thích lý do đã khiến ngôi mộ được niêm phong và canh chừng cẩn mật biến thành ngôi mộ trống. Đứng trước hiện tượng của ngôi mộ với tảng đá che cửa bị đẩy lăn sang một bên, thoạt tiên người ta nghĩ là xác Đức Giêsu đã bị đánh cắp, mang đi dấu cho một âm mưu đen tối. Bản tường trình của Maria với Phêrô (Gioan 20:2) và câu trả lời của Maria với hai thiên thần (Gioan 20:13) là một bằng chứng. Trong bối cảnh lịch sử và tâm lý của biến cố Phục Sinh, cộng thêm với những hạt nước mắt, rất có thể Maria đã không nhận ra Đức Kitô Phục Sinh, bởi vì cô đang khóc và bởi vì cô không nghĩ rằng Đức Giêsu đã sống lại.

           

            3. Âm Thanh Giọng Nói

            Nhưng vào buổi sáng Phục Sinh hôm đó, nếu Đức Kitô Phục Sinh yên lặng không nói năng chi, Maria có thể sẽ tiếp tục không nhận ra Ngài. Nhưng theo như thánh sử Gioan, Đức Kitô Phục Sinh, sau khi xuất hiện bên ngôi mộ trống, Ngài cất giọng hỏi Maria,

            — Tại sao cô khóc? Cô đang tìm kiếm ai?

            Kinh ngạc thay, Maria vẫn không nhận ra Ngài. Lạ kỳ thay, ngay cả giọng nói của Đức Kitô Phục Sinh cũng không gợi nên trong tâm trí Maria những thanh âm quen thuộc cho tới khi Ngài cất giọng lần thứ hai. Lần này, Ngài gọi đích danh tên người phụ nữ,

            — Maria.

            Ngay lập tức Maria nhận ra người đàn ông đang đứng trước mắt nàng chính là người đã nhắm mắt lại chết đi vào ngày thứ Sáu vừa qua. Nói một cách khác, sau khi nghe Đức Giêsu cất giọng gọi tên của mình, ngay lập tức Maria Mađalêna nhận ra người mà cô đang đàm đạo chính là người mà cô đang đi tìm kiếm.

 

            4. Đức Giêsu Phục Sinh Gọi Tên

            Thật ra, vào giây phút đầu tiên của cuộc tái ngộ giữa Đức Kitô Phục Sinh và Maria, hiện tượng Maria Mađalêna chỉ nhận ra Đức Kitô sau khi Ngài gọi tên cô cũng có thể giải thích qua lăng kiếng tâm lý. Có một số bạn bè thân thiết lâu rồi chúng ta không gặp mặt. Nhưng khi nghe giọng nói qua điện thoại, âm giọng đặc biệt của người bạn hoặc cách người đó gọi tên chúng ta đã giúp chúng ta nhận ra một cách dễ dàng nhân vật đang ở đầu giây bên kia là ai. Một cách tương tự, Maria Mađalêna là một người đệ tử thân thiết của Đức Giêsu. Rất có thể vào buổi sáng Phục Sinh đầu tiên, bên ngôi mộ trống, cô nhận ra Đức Giêsu Phục Sinh bởi Ngài đã gọi tên cô trong một cái cung cách riêng biệt mà Ngài thường gọi Maria khi còn sống. Bởi thế, Maria Mađalêna đã nhận ra Thầy của mình ngay lập tức

            Chi tiết thân quen và thân thiết này sẽ xuất hiện thêm hai lần nữa trong hai câu chuyện khác liên quan tới Tin Mừng Phục Sinh, đó là, câu chuyện Trên Đường Emmau (Luca 24:13-35) và câu chuyện Bên Bờ Biển Hồ Tiberías (Gioan 21:1-14).

 

            C. Đức Kitô Phục Sinh và Hai Người Môn Đệ Trên Đường Emmau (Luca 24:13-35)

            Vào buổi sáng Phục Sinh đầu tiên, theo như thánh sử Luca, hai người môn đệ Đức Giêsu quyết định rời bỏ kinh thành Giêrusalem. Trong khi họ đang chuyện trò với nhau trên con đường về những chuyện vừa mới xẩy ra, thì chính Đức Kitô hiện ra cùng đi với họ. Nhưng “mắt họ bị ngăn cản không nhận ra Ngài” (Luca 24:16) cho tới khi Đức Giêsu Phục Sinh “bẻ bánh” (Luca 24:31, 35).

            Câu chuyện Trên Đường Emmau xác nhận điều mà chúng ta đang nghi ngờ. Dường như dung mạo và giọng nói Đức Kitô sau biến cố Phục Sinh đã hoàn toàn thay đổi. Thay đổi dung mạo ở đây không phải chỉ là một cái thay đổi bình thường, thí dụ, tóc dài hơn trước, râu mọc nhiều hơn, mập hoặc gầy đi, đen hoặc trắng ra. Thay đổi giọng nói ở đây không phải chỉ là giọng trầm ấm hẳn lên hoặc giọng nói bỗng dưng cao vút. Dường như dung mạo của Đức Giêsu Phục Sinh không còn mang những nét tương tự như Đức Giêsu thời còn sinh tiền nữa. Giọng nói của Ngài hình như không còn âm hưởng những âm thanh quen thuộc. Cho nên mặc dầu đã sánh bước và đàm đạo với Ngài trên một quảng đường dài khoảng mười một cây số, ông Cleôpas và người môn đệ kia lầm tưởng là họ đang đồng hành với một người khách lạ.

 

            1. Mắt Bị Ngăn Cản và Mắt Họ Mở Ra

            Câu hỏi được đặt ra ở đây là tại sao hai người môn đệ không nhận ra Đức Kitô Phục Sinh?

            Theo như Luca, bởi mắt của họ bị ngăn cản, cho nên cả hai không ai nhận ra Ngài (Luca 24:16). Nhưng tại sao mắt họ bị ngăn cản? Và ai đã ngăn cản mắt của họ? Trong bài Tin Mừng Luca 24:13-35, tác giả không hề đưa ra bất cứ lời giải thích nào cho cả hai nghi vấn vừa nêu ra ở trên. Trong khuôn khổ của bài tham khảo, hai lý do mà chúng ta có thể nêu lên là,

 (1). Rất có thể bởi vì Đức Kitô chưa muốn tỏ lộ Ngài ra cho hai người môn đệ, cho nên mắt họ đã bị Ngài ngăn cản lại.

(2). Đức Giêsu Phục Sinh đã thay đổi, cho nên mắt họ bị ngăn cản. Họ không nhận ra Ngài[2]. Tuy nhiên, ngay sau khi thấy người khách lạ ngồi chung bàn bữa ăn tối “bẻ bánh” (Luca 24:30, 35), mắt của hai người môn đệ mở ra. Hành động bẻ bánh của người khách đồng hành trên bàn ăn đã nhắc lại hình ảnh Đức Giêsu thời Ngài còn sinh tiền. Và qua hành động bẻ bánh, ngay lập tức họ nhận ra Ngài[3]. Chính tác giả Luca trong đoạn cuối của câu chuyện Trên Đường Emmau cũng xác nhận với độc giả Kinh Thánh hành động bẻ bánh là nguyên nhân đã khiến hai người môn đệ nhận ra Đức Giêsu Phục Sinh (Luca 24:35).

 

            2. Đức Kitô Phục Sinh, Bẻ Bánh

            Bài Tin Mừng Trên Đường Emmau xác nhận giả thiết mà chúng ta đã đặt ra, đó là, mặc dầu Đức Giêsu Phục Sinh vẫn là Đức Giêsu của thời đi rao giảng Tin Mừng, dung mạo và giọng nói của Ngài đã thay đổi.

 

            D. Bên Bờ Biển Hồ (Gioan 21:1-14)

            Sau câu chuyện Bên Ngôi Mộ Trống và Trên Đường Emmau, câu chuyện Bên Bờ Biển Hồ Tiberías một lần nữa khẳng định điều chúng ta đang thắc mắc, đặt dấu chấm hỏi, đó là, có phải Đức Kitô đã thay hình đổi dạng sau khi Ngài từ cõi chế sống lại? Theo như Gioan 21:1-14, các người cựu ngư phủ sau ba năm bỏ nghề, vào một buổi tối bên bờ Tiberias của Biển Hồ Galilê, họ chèo thuyền ra khơi thả lưới. Nhưng lại thêm một lần nữa, sau một đêm vất vả, các ông không bắt được một chú cá nào. Trong khi các người ngư phủ đang thất vọng với khoang thuyền trống vắng, Đức Kitô Phục Sinh hiện ra. Khi đó trời đã sáng, Ngài đứng bên bờ hỏi han chuyện trò với những người ngư phủ…không có tay sát cá. Nhưng các người môn đệ ruột thịt của Đức Giêsu không nhận ra bóng dáng và giọng nói của người đàn ông đang đứng ngay bên Biển Hồ.

            Biết là các người môn đệ lại thất bại sau một đêm vất vả buông lưới, Đức Giêsu Phục Sinh cất giọng,

            — Này các chú, không có chi ăn sao?

            Các ông trả lời,

            — Thưa không.

            Ngài nói,

            — Thả lưới bên phải mạn thuyền, thì sẽ bắt được cá.

            Nghe theo lời người đàn ông lạ mặt, những người ngư phủ thả lưới. Thế là lưới cá nhẹ tênh thôi không nhẹ tênh, nhưng trở nên căng phồng với cá. Thấy vậy, người môn đệ Đức Giêsu thương mến mới nói với Phêrô,

            — Thầy đó (Gioan 21:1-8).

 

            1. “Cứ Thả Lưới Bên Phải Mạn Thuyền”

            Đây là lần thứ ba, những chi tiết trình bày trong câu chuyện Bên Bờ Biển Hồ tái xác nhận với chúng ta một dữ kiện, đó là, các người môn đệ ruột thịt của Đức Giêsu không nhận ra Đức Kitô Phục Sinh. Đặc biệt lần này bên bờ biển Hồ cả năm đại tông đồ chân truyền của Trưởng Môn Kitô Giáo đều xuất hiện trên khoang thuyền đánh cá. Năm trong số bẩy người ngư phủ của buổi sáng ngày hôm đó là Phêrô, Tôma, Nathannael, Giacôbê, và Gioan. Năm đại đồ đệ của Đức Giêsu đều có mặt, chứng kiến giây phút cá của Biển Hồ từng đàn rủ nhau chui vào lưới. Lạ lùng thay, tất năm môn đệ chân truyền đều không nhận ra Đại Sư Phụ Giêsu Phục Sinh và giọng nói của Ngài.

            Tuy nhiên trong khi những chú cá đang vươn vẩy trên khoang thuyền, người môn đệ thân thương của Đức Giêsu mới chợt nhớ ra câu chuyện một đêm vất vả không bắt được chú cá nào cũng bên bờ Biển Hồ của ngày xưa (Luca 5:1-11). Hồi đó Đức Giêsu cũng đã từng nói với Phêrô, “Hãy thả lưới bắt cá” (Luca 5:4). Cho nên vào buổi sáng Phục Sinh ngày hôm đó, khi nghe người đàn ông lạ mặt đang đứng ở trên bờ truyền lệnh, “Hãy thả lưới bên phải mạn thuyền” (Gioan 21:6), người môn đệ Đức Giêsu yêu mới nói với Phêrô, “Thầy đó”. Nghe tới hai  chữ, “Thầy đó”, ngay lập tức, Phêrô mặc áo vào, nhảy xuống biển, bơi vào bờ.

 

            2. Đức Kitô Phục Sinh, Thả Lưới

Nếu Ngài đứng ở bờ biển vào đêm khuya tối, có thể bạn đoán rằng bởi mệt mỏi với sương khuya và với bão tố, những người ngư phủ không nhận ra Ngài. Nhưng thánh sử Gioan đã nói rất rõ là Đức Giêsu Phục Sinh không hiện ra vào lúc trời chập choạng tối hay là nửa đêm, nhưng Ngài hiện ra vào buổi sáng.

            Câu chuyện Bên Bờ Biển Hồ chưa chấm dứt ở đây, Gioan 21:8. Sau khi lên bờ, bẩy người môn đệ nhận ra Đức Kitô đã đốt lò than nướng cá và bánh mì. Thấy cá mới, Ngài nói họ mang cá mới bắt ra đây nướng. Nhưng không ai trong bẩy người môn đệ hỏi, “Ông là ai?”, vì họ biết người đàn ông chính là Đức Giêsu Phục Sinh (Gioan 21:12). Câu này, Gioan 21:12, nói cho chúng ta biết vào buổi sáng ngày hôm đó, ngay trên bờ Biển Hồ, các người môn đệ ruột thịt của Đức Giêsu Phục Sinh vẫn không nhận ra được Ngài, mặc dù họ biết người đang nướng cá cho họ ăn chính là Thầy của mình.

            Đây là lần thứ ba, các người môn đệ không nhận ra Đức Giêsu, sau khi Ngài đã Phục Sinh.

 

            E. Đức Giêsu Thời Sinh Tiền và Đức Giêsu Phục Sinh

            Sau khi phân tích ba câu chuyện Tin Mừng đặc trưng và tiêu biểu về Đức Giêsu Phục Sinh (Luca 24:13-35, Gioan 20:1-18, 21:1-14), giờ này chúng ta đã có thể khẳng định rằng sau khi sống lại từ trong kẻ chết, Đức Giêsu đã biến đổi (transformed). Khuôn mặt Ngài thay đổi. Giọng Ngài cũng đổi khác. Những người môn đệ, trong khi đối diện và đàm thoại với Ngài, đều tưởng lầm là mình đang diện kiến và đàm đạo với một người khác. Nếu Đức Giêsu không gọi tên, hoặc bẻ bánh, hoặc mở miệng nói những câu nói mà khi còn sinh tiền Ngài thường hay nói, các người môn đệ ruột thịt sẽ không nhận ra Đức Giêsu Phục Sinh.

 

            II. Thể Xác Thế Gian, Thể Xác Thần Khí

             Nếu Đức Giêsu thời sinh tiền và Đức Giêsu thời Phục Sinh khác nhau về dung mạo và giọng nói, chuyện chi đã xấy đến với Đức Giêsu sau khi Ngài sống lại?

Cách nay gần 2000 năm, câu hỏi vừa được nêu ra ở trên đã được Phaolô gián tiếp nêu ra và trả lời. Trong lá thư dài 16 chương gửi tới Cộng Đoàn Dân Chúa thuộc giáo xứ Côrin, thuộc thành phố Côrin, Hy Lạp, nhà truyền giáo nhiệt thành cự nự con chiên của ngài

            — Có thể có người sẽ nói, “Kẻ chết trỗi dậy thế nào? Họ lấy thể xác nào mà trở về? Đồ ngốc…

            Phaolô tiếp tục lá thư với những hàng chữ diễn tả về hai loại thể xác xuất hiện và tồn tại trên cõi đời này, một là thể xác sinh khí thuộc về cõi trần thế, hai là thể xác thần linh thuộc về cõi thiên đàng.

Con người ai cũng sinh ra, lớn lên, trưởng thành, rồi chết. Sau khi chết đi, thể xác tan rã, biến thành tro bụi. Thể xác này Phaolô gọi là thể xác sinh khí, σῶμα ψυχικόν (1Cor 15:44). Bên cạnh thể xác sinh khí này, tồn tại một loại thể xác khác. Thể xác này không thuộc về thế gian, nhưng thuộc về thiên đàng. Phaolô gọi thể xác thiên đàng này là thể xác thần khí, σῶμα πνευματικόν (1Cor 15:44).

Phaolô tin rằng cuộc sống không chấm dứt tại giây phút con người nhắm mắt lìa đời. Nhưng sau khi xuôi tay lìa bỏ cuộc đời, thể xác sinh khí tan biến đi. Khi sống lại, kẻ chết sẽ trỗi dậy với không phải thân xác thuộc về trần gian nữa, mà là thể xác thần khí. Sự chết là nguyên nhân chính khiến thể xác sinh khí biến đổi sang thể xác thần khí.

Phaolô đã dùng hình ảnh của hạt lúa để giải thích hai danh từ thần học thể xác sinh lý và thể xác thần khí. Ông lý luận rằng nếu hạt giống không chết đi, nó vẫn giữ nguyên hình dạng với vỏ cứng bên ngoài và hạt mầm bên trong. Nếu cứ tiếp tục nằm trong kho thóc, hạt lúa sẽ muôn đời vẫn là hạt lúa. Nhưng nếu được gieo xuống đất và chết đi, hạt mầm sẽ phá rách vỏ lúa, vươn mình đứng dậy trong một thân xác mới. Hạt lúa và cây lúa thật sự ra vẫn chỉ là một. Nhưng bởi sự chết, hạt lúa thay đổi sang hình dạng mới, hình dạng cây lúa xanh tươi. Tương tự như hạt lúa, sau khi con người chết đi, thể xác sinh khí sẽ từ từ tan biến vào lòng đất đen. Nhưng sự chết không phải là cánh cửa đóng lại tất cả. Sự chết đã bị Đức Giêsu Phục Sinh đánh bại. Bởi thế trong Đức Kitô sự chết sẽ biến đổi thể xác sinh khí sang thể xác thần khí. Khi vươn vai sống dậy, người Kitô sẽ xuất hiện, khoác vào người thể xác thần khí tương tự như thể xác thần khí của Đức Kitô.

            Phaolô đã dùng Mầu Nhiệm Thương Khó (Đức Giêsu chết đi, Ngài được chôn trong mồ, và Ngài sống lại, 1Cor 15:3-4) để minh họa cho thần học thể xác và thể xác thần khí được trình bày trong 1Cor 15. Phaolô tin rằng sau khi sống dậy từ trong kẻ chết, thể xác sinh khí của Đức Giêsu đã biến đổi sang thể xác thần khí. Trong dòng lịch sử ơn cứu độ, Đức Giêsu Phục Sinh là người đầu tiên có được thể xác thần khí. Riêng về người Kitô hữu, theo như Phaolô, sau khi chúng ta sống dậy trong Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ có thể xác thần khí này.

 

            III. Tính Chất của Thể Xác Thần Khí

            Thể xác thần khí có bốn tính chất căn bản thoạt tiên nghe có vẻ hơi tương tự như chuyện ma.

            (1). Không gian và thời gian không còn ảnh hưởng trên thể xác thần khí nữa.

            (2). Người mang thể xác thần khí vẫn có thể ăn uống bình thường như người mang thể xác sinh khí.

            (3). Những vết thương của thể xác sinh khí vẫn còn lưu lại trên thể xác thần khí.

            (4). Trong khi thể xác sinh khí tiếp tục già cỗi, chết đi, thể xác thần khí sẽ tồn tại muôn đời, bất diệt, bất tử.

 

            A. Không Gian và Thời Gian

            Con người khi còn sống ai ai cũng mang thể xác sinh khí. Cho nên không ai có khả năng đi xuyên qua tường hoặc tự nhiên hiện ra trước mặt mọi người trong một căn phòng đóng kín cửa. Không ai có thể thoạt biến thoạt hiện, hoặc xuất hiện vào cùng một thời điểm nhưng ở hai địa điểm khác nhau (bilocation); thí dụ, buổi sáng xuất hiện ở thành phố Giêrusalem, chiều tối biến mất trong một căn nhà ở thôn làng Emmau. Những chuyện như vậy chỉ xẩy với Đức Kitô Phục Sinh hoặc qua phim ảnh của thủ đô điện ảnh Holywood.

            Bởi những nét đặc thù của riêng mình, thể xác sinh khí hoàn toàn bị ảnh hưởng vào những định luật vật lý và thiên nhiên. Con người không thể bay lên trời. Muốn bay trên trời, chúng ta phải mua vé máy bay. Con người không thể đi xuyên qua tường. Muốn vô một căn nhà đang đóng kín cửa, chúng ta phải đập vỡ cửa hoặc trổ mái ngói. Con người trần gian không thể thoạt biến thoạt hiện. Hô biến một cái, thế là tự dưng người ta tan biến vào trong thinh không như sương khói.

            Thể xác thần khí thì hoàn toàn ngược lại. Thể xác thần khí hoàn toàn không bị ảnh hưởng bời thời gian và không gian. Theo như thánh sử Luca, sau khi bẻ bánh và trao cho hai người môn đệ, Đức Kitô Phục Sinh đã tan biến trước mặt hai người môn đệ (Luca 24:31). Ngay lâp tức, hai người bỏ làng Emmau, lên đường quay về thành phố Giêrusalem. Gặp lại các người môn đệ khác, họ kể cho các ông nghe câu chuyện lạ họ vừa chứng kiến. Trong khi còn đang bàn tán với nhau, Đức Kitô lại hiện ra, đứng giữa các ông, và nói,

            — Bình an cho các con (Luca 24:36-39).

            Theo như thánh sử Gioan, vào buổi chiều của ngày thứ nhất trong tuần, sau khi đã hiện ra với bà Maria Mađalêna bên ngôi mộ trống, Đức Kitô Phục Sinh lại hiện ra với các môn đệ trong căn phòng mà “các cánh cửa đều đã bi đóng kín” bởi vì sợ người Do Thái (Gioan 20:19).

            Cuối cùng, theo như Luca, sau bốn mươi đêm ngày lưu lại trên trần gian với những người môn đệ, Đức Giêsu Phục Sinh “từ từ được cất lên trời ngay trước mặt các ông, và có một đám mây quyện lấy Ngài khiến các ông không còn trông thấy Ngài nữa” (Tông Đồ Công Vụ 1:9).

            Dựa vào cả ba câu chuyện được trích dẫn ở trên (Luca 24:36-39, Gioan 20:19, Tông Đồ Công Vụ 1:9), chúng ta nhận ra một điều, Đức Giêsu Phục Sinh, với thể xác thần khí, có thể đi xuyên qua tường, hiện ra rồi biến mất, đi trên đất rồi bay lên trời. Không gian và thời gian không còn ảnh hưởng chi trên thể xác thần khí của Đức Giêsu Phục Sinh.

             

            B. Ẩm Thực

            Mặc dù những định luât vật lý về không gian và thời gian đã thôi không còn ảnh hưởng trên Đức Giêsu Phục Sinh nữa, Đức Giêsu vẫn ăn uống y như khi Ngài vẫn còn thể xác sinh khí.

            Theo như Luca, khi thấy Thầy của mình hiện ra đứng giữa căn phòng đóng kín cửa, những người môn đệ run sợ bởi họ nghĩ Đức Giêsu Phục Sinh là ma. Thông cảm với nỗi lo sợ, Ngài trấn an họ,

            — Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ sờ xem. Ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây.

            Nhưng các ông vẫn còn sợ. Biết vậy, Đức Giêsu Phục Sinh nói họ mang thức ăn lại. Họ đưa cho Ngài một khúc cá nướng. Trước mặt các người môn đệ, Đức Giêsu cầm lấy khúc cá. Và Ngài ăn (Luca 24: 43).

            Thêm một lần nữa, Luca trong Tông Đồ Công Vụ kể lại, trước khi thăng thiên về lại thiên đàng, Đức Giêsu ngồi ăn với các tông đồ (Tông Đồ Công Vụ 1:4).

           

            C. Nét Thể Xác Thần Khí

            Dựa trên những câu chuyện tường trình về những cuộc gặp gỡ giữa Đức Kitô và các người môn đệ trong căn phòng kín, đặc biệt cuộc hội ngộ với thánh tông đồ Tôma, chúng ta có thể rút ra được thêm một kết luận nữa là mặc dù dung mạo và giọng nói của Đức Giêsu đã thay đổi, nhưng thể xác thần khí vẫn có xương và thịt như thể xác sinh khí. Đặc biệt thể xác thần khí vẫn còn lưu lại những vết thương trên người của thể xác vật lý đã mang khi còn sinh tiền.

 

            D. Bất Tử, Bất Diệt

            Điểm cuối cùng và cũng là nét đặc biệt nổi bật của thể xác thần khí là trong khi thể xác sinh khí bị ảnh hưởng chi phối bởi hai định luật tự nhiên, sinh và tử, thể xác thần khí thì không.

            Cả hai định luật căn bản của thiên nhiên, sinh và tử, Đức Giêsu thời còn sinh tiền đều đã trải qua, bởi vì có một khoảng thời gian Ngài đã mang lấy thể xác sinh khí. Không ai có thể từ chối được một điều là Đức Giêsu đã được cưu mang trong lòng và sinh ra bởi một người phụ nữ. Đức Giêsu không từ trên trời rớt xuống đất. Ngài cũng không được bọc trong khăn, được chú cò tha Ngài đặt trước hang đá. Đức Giêsu là Thiên Chúa, sinh xuống làm người trong thể xác sinh khí của trần gian. Cho nên Ngài đã được sinh ra bởi Đức Mẹ Maria. Sau khi bị đóng đinh trên cây thập giá, Đức Giêsu của thể xác sinh khí đã nhắm mắt lại chết đi.

            Ngược lại, theo như thánh Phaolô, bởi thuộc về trời cao, thể xác thần khí không bị chi phối và chịu ảnh hưởng của sự chết nữa. Thể xác thần khí không chết nhưng bất diệt và bất tử (1Cor 15:52-53).

           

            IV. Thể Xác Thần Khí

            Tới giây phút này bạn và tôi đã có thể trả lời được hai nghi vấn mà chúng ta đã đặt ra từ những dòng chữ đầu tiên của bài tham khảo. Thứ nhất, chúng ta có thể xác nhận được một điều là thể xác sinh khí của Đức Giêsu thời sinh tiền, sau biến cố Phục Sinh, đã biến đổi sang thể xác thần khí. Nói một cách khác, Đức Giêsu Phục Sinh có dung mạo và giọng nói không giống như Đức Giêsu thời sinh tiền. Cho nên, đã rất nhiều lần các môn đệ ruột thịt không nhận ra Đức Đức Giêsu Phục Sinh. Thứ hai, Đức Giêsu, sau biến cố Phục Sinh, không còn mang thể xác sinh khí nữa.        

            Thể xác thần khí không bị ảnh hưởng bởi không gian và thời gian. Thể xác thần khí có tính chất bất diệt và bất tử. Và đặc biệt nhất, vào ngày cuối đời, khi chúng ta sống lại trong Đức Kitô, tương tự như Đức Giêsu Phục Sinh, chúng ta sẽ được khoác vào người bộ áo thể xác thần khí.

            Nguyễn Trung Tây, SVD

_________________________________

chú thích

[1] Xin đọc Những Người Phụ Nữ và Ngôi Mộ Trống.

[2] Một lần nữa, Luca cũng không thông báo cho độc giả biết tại sao “mắt của họ mở ra”, và ai mở mắt của hai người môn đệ để rồi “họ nhận ra Ngài”. Bởi vậy, chúng ta lại có hai trong nhiều giải đáp cho dữ kiện “mắt của họ mở ra, và họ nhận ra Ngài”. Thứ nhất, trong lăng kiếng thần học, Đức Giêsu Phục Sinh đã mở mắt họ ra, cho nên hai người môn đệ mới nhận ra được Thầy của mình.

[3] Thí dụ bài Tin Mừng Hóa Bánh Ra Nhiều, Bên Bờ Biển Hồ.



trang chính |   lời giới thiệu  |   sống lời chúa  |   truyện ngắn |  liên lạc

copyright © 2004 nguyentrungtay