trang chính |   lời giới thiệu  |   sống lời chúa  |   truyện ngắn |  liên lạc



                                     
LM. Joseph Nguyễn Thái
mùa phục sinh
hoa nở & tình yêu

 

Và trước khi bắt đầu những dòng chữ đầu tiên của lá thư, tôi chợt nghĩ đến bạn, những độc giả. Giờ này bạn đang ở đâu? Làm gì? Suy nghĩ những chi? Bạn có những thắc mắc, băn khoăn như những tác giả xuất hiện trên Phố Gió không?...

________tuyển tập phố gió


 

Nhân dịp ngày mãn trường niên khóa 1998–1999, anh em tu sĩ Việt Nam vùng Chicago muốn ra mắt Phố Gió giữ truyền thống, nối tiếp tuyển tập những suy tư, chia xẻ xuất bản năm ngoái với tựa đề, “Một Khoảng Thời Gian Đã Đi Qua”. Âu cũng là một sáng kiến hay, tôi tự nghĩ, nhưng việc chuẩn bị bài vở, đánh máy, phí tổn in ấn, phát hành…lại cũng là một vấn đề! Anh em kêu gọi tôi đóng góp bài vở. Tôi chẳng có tư tưởng gì đặc biệt, cũng không mang tâm tình gì sâu sắc. Chỉ có những suy niệm nhỏ hằng tuần dựa trên Phúc Âm mỗi Chúa Nhật, thêm vào bài giảng, để giúp mình sống phong phú hơn trong hành trình thiêng liêng.

I. Phục Sinh: Chúa Là Đấng Cứu Độ Tôi

Nhà văn Rabindranath Tagore được giải thưởng Nobel năm 1913 có một chuyện ngắn thật thú vị với tên “Cô Dâu Bé Nhỏ”, được Ngô Minh Tự dịch ra Việt Ngữ in trong “Tuyển Tập Truyện Ngắn Các Tác Giả Đoạt Giải Nobel” Tập II, do nhà xuất bản Văn Học Hà Nội 1998.

Câu chuyện kể về tình yêu của một đôi vợ chồng trẻ người Ấn Độ, họ lấy nhau do cha mẹ xếp đặt. Chú rể sau khi thi đỗ tú tài, trở về làng thì được người mẹ già bụa tìm cho chàng một cô vợ xưa kia là hàng xóm, nay đã dọn sang ở một làng bên cạnh. Vì hôn nhân ngoài ý muốn của mình, nên cô dâu bất đắc dĩ cảm thấy rất là bất hạnh, thay vì tỏ lòng yêu thương chồng, thì cô lại có thái độ nguyền rủa, chê bai và diễu cợt, mặc dù cô chỉ là cô gái nhà quê so với người chồng trí thức.

Sau khi đám cưới, chú rể lại phải lên tỉnh tiếp tục việc học hành trong 2, hay 3 năm nữa. Còn cô dâu thì nhất mực không chịu ở nhà với bà mẹ chồng góa bụa, cho dù bà mẹ chồng rất yêu thương con dâu. Sau cùng chú rể đồng ý đưa cô trở về nhà sống với cha mẹ ruột của cô. Khi chia tay ra đi, chàng đặt ra cho vợ một điều kiện: “Anh sẽ không trở về nhà, chừng nào em chưa viết thư gọi anh về với em”. Và đồng thời xin vợ thưởng cho chàng một nụ hôn đích thực của tình yêu. Khi nghe lời yêu cầu kỳ lạ đó, thì cô vợ chỉ phá ra cười, giấu mặt sau vạt “xari”, rồi làm ngơ. Khi cô đã về ở nhà cha mẹ mình rồi, thì cô cảm thấy tất cả đã thay đổi khác hẳn với những gì còn giữ lại trong ký ức. Dân làng đã nhìn cô bằng con mắt khác, ngay cả cha mẹ và gia đình cô cũng thế. Làm gì đây? Đi đâu? Thăm ai?

Để diễn tả sự thay đổi này, Tagore đã dùng một ngụ ngôn như sau: “Trong truyền thuyết có câu chuyện về một người thợ đúc khí giới lão luyện, có thể làm những thanh gươm sắc bén đến nỗi người bị chặt làm đôi vẫn không hay biết, nhưng khi lắc mạnh, hai phần thân thể sẽ rời ra”.

Giờ đây, do một cái lắc mạnh, hai mảnh cuộc đời cô đã rời ra khỏi nhau. Cô không còn là một cô bé vui đùa, hồn nhiên như khi xưa nữa, mà suốt ngày buồn bã nằm trong nhà! Cô nhận ra cô không còn là cô bé ngày xưa nữa! Một hôm cô xin mẹ dẫn trở về nhà mẹ chồng. Mẹ chồng thấy con dâu trở về thì cảm động lắm, mẹ con ôm nhau, nước mắt rưng rưng. Họ sống thật hòa hợp và yêu thương. Thật không ngờ con dâu đã thay đổi hẳn. Càng sống họ càng hiểu nhau, yêu thương nhau, nên càng nhớ và tội nghiệp chồng nhiều hơn.

Cô vợ nhớ lại lời chồng dặn khi chia tay, và viết thư xin chồng về thăm, nhưng chẳng hiểu vì sao, lá thư đã không tới tay chàng. Chàng đã không trở về! Còn hai mẹ con thì nghĩ rằng chàng còn giận, nên không về! Thế rồi hai mẹ con quyết định lên tỉnh để xin lỗi chàng. Ở trên tỉnh có nhà người con rể nên hai mẹ con ở đó. Bà sai con rể vào nhà trường mời con trai ra nhà ăn cơm tối. Chàng ngại ngùng vì việc thi cử, nhưng cũng phải ra. Mẹ con ăn uống vui vẻ. Còn chàng thì có vẻ buồn buồn và thầm trách mẹ rằng tại sao không mang vợ chàng theo. Cơm nước xong đã khuya, trời lại đổ cơn mưa, chàng đòi về, nhưng anh rể không cho về, tìm mọi cách bắt chàng phải ngủ lại đêm nay. Và đã sẵn sàng một căn phòng lịch sự cho chàng ngủ. Nhưng cắc cớ thay, căn phòng lại không có đèn! Tối om. Bà chị dẫn chàng lên phòng, đổ thừa: “Gió vừa thổi tắt đèn đấy”! Tính chàng dễ tính: “Tối một tí cũng được, chẳng sao”! Rồi chàng mò mẫm đi tới giường, chuẩn bị leo lên nằm. Đột nhiên hai cánh tay êm ái ôm quàng lấy cổ anh, và một đôi môi dịu dàng như hai cánh hoa… Chàng nghẹt thở với những cái hôn đẫm nước mắt! Nhưng chàng đã hiểu ra rằng những cái hôn đó ngày trước bị tiếng cười chặn đường, giờ đây đã theo giòng nước mắt đến được với chàng. “Nước Mắt và Hạnh Phúc”!

“Oh My God”! Chỉ vì tôi thích cái đoạn diễn tả về sự thay đổi của con người qua câu chuyện truyền thuyết về lưỡi gươm sắc bén của nhà làm khí giới, sắc bén tới độ chặt đứt đôi người ra mà vẫn không hay biết, và chỉ biết, mình đã chia đôi khi “lắc mạnh”, tức di động, mà tôi phải kể nguyên một câu chuyện!

Thời gian là lưỡi dao sắc bén cắt đôi con ngươi mà con người không hay biết. Con người chỉ biết mình đã thay đổi khi hành động! Nhìn vào hành động để biết được cái tôi hôm qua và cái tôi hôm nay. Cái tôi hôm nay có tốt hơn cái tôi hôm qua hay không?

Trong quá khứ Chúa là Đấng Cứu Độ tôi, dẫn dắt tôi trong cuộc đời, đưa tôi qua khỏi cơn nguy khốn. Thoát hiểm nguy lúc vượt biên. Gỡ khỏi sa đọa khi an bình. Đưa vào đường ngay nẻo chính.

Nhưng hiện nay, khi tôi tự nghĩ rằng, mình đang trong đường ngay nẻo chính rồi, cái mức độ nhận thức “Chúa là Đấng Cứu Độ” có còn giữ nguyên giá trị cứu độ như ngày xưa hay không? Hay chỉ là môi miệng khi giảng thuyết, khi làm thần học, khi viết bài đăng báo, khi khuyên bảo người khác mà lòng mình rất nao núng!

Tôi có tốt hơn là tôi, khi nằm trên bờ đá ở hoang đảo Thái Lan, nhịn khát cho em bé đang lên cơn sốt có chút nước uống, và cầu nguyện tha thiết cho có sự sống, để dùng sự sống đó sống tốt hơn? Cái tôi mong ước sự sống có lẽ đã tốt hơn nhiều cái tôi khi đã thoát chết, có sự sống, và sự sống ấy lại quá sung túc nữa! Sự sống đó đang vinh danh ai? Mình hay Chúa? Mình có lẽ nhiều hơn!

Sau khi Chúa Giêsu chết và sống lại, Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống. Các Tông Đồ đã thay đổi như “Cô Dâu Bé Nhỏ” của Tagore. Ngọn lửa Thần Khí vô hình là lưỡi dao sắc bén đã cắt đôi hình hài của các ông. Các tông đồ biết mình đã thay đổi từ khi các ngài “lắc mạnh”, hành động, rao giảng, tuyên xưng Đức Tin và làm chứng cho Đức Kitô. Ngược với hành động hèn nhát, trốn chạy, dối trá khi xưa. Người bị chẻ đôi không hay biết cho đến khi họ “lắc mạnh”, bước đi. Con người, có thay đổi, cũng không hay biết cho đến khi họ hành động!

Lạy Chúa, cái tôi hôm qua của con và hôm nay có thay đổi, thời gian, môi trường và sự yếu đuối làm nó thay đổi, chứ không phải là Ngọn Lửa Thần Khí làm con thay đổi. Và con đã thay đổi tệ hơn chứ không thay đổi tốt hơn. Rõ ràng là, niềm xác tín vào “Chúa là Đấng Cứu Độ” con, đã không còn mạnh mẽ lắm so với lúc con lâm nguy. Nhân kỷ niệm sự sống lại của Ngài, xin cho con vẫn luôn xác tín mạnh mẽ như lúc con lâm nguy và khốn khó rằng “Chúa là Đấng Cứu Độ”con. Amen.

II. Mùa Hoa Anh Đào

Năm nay nối tiếp Chúa Nhật Phục Sinh là Mùa Hoa Anh Đào nở ở Washington, D.C. Sự trùng hợp có năm xảy ra, có năm không. Và cuộc diễn hành mừng mùa Hoa Anh Đào ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn được tổ chức vào ngày 10/4. Theo sử liệu thì năm 1912 Nhật Hoàng đã tặng dân tộc Hoa Kỳ 3 ngàn cây anh đào trồng chung quanh một vùng đầm lầy mà bây giờ đã trở thành thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Khoảng 28 phần trăm số cây đã trồng năm 1912 đến nay vẫn còn sống. Số cây chết đã được thay thế bởi cây mới cũng do chính phủ Nhật Bản cung cấp. Vào năm 1927, học sinh trung tiểu học ở Hoa Thịnh Đốn tổ chức lễ kỷ niệm việc trồng hoa anh đào. Mãi đến năm 1935 thì có những cuộc diễn hành với xe hoa, và ban nhạc của các trường trung và tiểu học từ các tiểu bang về tham dự. Và kể từ đó phong tục mừng lễ mùa hoa anh đào trở thành thói quen. Năm nay chính mắt tôi đã thấy cuộc diễn hành của các em trung tiểu học từ khắp các tiểu bang ở Hoa Kỳ về dự lễ mùa hoa anh đào. Nhìn các em hồn nhiên, ngây thơ, trong trắng, tươi vui và trẻ đẹp thì không ai mà không khỏi nghĩ rằng chính các em mới là những hoa anh đào đích thực. Những bông hoa hằng năm sẽ ra trường tạo nên mùa xuân cho đời!

Có rất nhiều loại hoa anh đào đã được trồng ở Hoa Thịnh Đốn. Cả thảy là 8 loại. Nhưng có 2 loại chính là Yoshino và Kwanzan. Trên thực tế có 2 loại dễ phân biệt là loại hoa trắng và hồng nhạt. Một cánh hoa anh đào từ lúc nở đến lúc tàn là 3 ngày. Và một mùa hoa, từ lúc hoa đầu tiên nở đến cánh hoa cuối cùng tàn lụi là 2 tuần lễ. Đối với người Nhật, hoa anh đào là quốc hoa, hoa đại diện cho dân tộc Nhật Bản. Họ so sánh cuộc đời chóng vánh ngắn ngủi của một kiếp hoa là 3 ngày với sự qua mau của một kiếp người bằng một câu thơ:

Anh Đào nở ba ngày đã rụng,
          Khác chi người, một kiếp phù dung.

Ba ngày là một kiếp sống của đóa hoa. Hai tuần lễ là thời gian mùa hoa anh đào nở thì thật rất là ngắn ngủi! Không những nó quá ngắn ngủi mà còn rất mong manh nữa! Đâu có phải năm nào hoa cũng được nở rộ đâu! Có những năm, những trận mưa đá, hoặc bão tuyết đã vùi dập đi những cánh hoa hãy còn đang nụ tầm xuân chờ cơ hội nở nụ cười ra với đời! Và cũng không phải năm nào cuộc diễn hành cũng trùng hợp với mùa hoa nở rực rỡ được.

Mùa hoa anh đào năm ngoái tôi nhận được cú “e-mail” của một anh bạn, Đỗ Lam, từ Nhật Bản tả về cái đẹp của mùa hoa xứ anh đào làm tôi phát thèm. Năm nay tôi quyết chí phải tận mắt chiêm ngắm cái đẹp, cái hương vị thoang thoảng, cái phù du ngắn ngủi, cái mong manh của kiếp hoa này.

Chúng tôi ra đi lúc 11 tối, thứ năm, 8/4/99 , giữa đêm trường tăm tối của một đêm mưa đang chuyển mình sang sấm xét bão bùng. Lại có tin từ TV thông báo cho hay sẽ có “tornados” ở những quận phía nam Illinois. Trong sự hy vọng lười biếng và không chịu kiểm chứng, chúng tôi tự nghĩ bão tố chỉ xảy ra ở địa phương Illinois mà thôi, sang bên Indiana sẽ khác! Sự thật đã khác hẳn. Chúng tôi phải trả giá cho đoạn đường đi từ Chicago, qua Indiana, Ohio, Pittsburg trong mưa gió, và sấm sét. Chớp chóa mắt ngay đầu xe. Gió bê xe chệnh choạng. Mưa cản đường đi, làm chiếc xe phải bò đi rất chậm. Người tài xế phải cúi gằm mặt vào sát kính xe để nhìn rõ hơn khúc đường vài mét sắp tới!

Tôi đọc kinh ráo riết. Vừa đọc kinh vừa nói chuyện cho bớt căng thẳng để người tài xế có can đảm vượt thử thách. Khi chúng tôi tới Cleveland, nghe tin tức và xem hình ảnh “tornado” vừa xảy ra ở phía nam của Ohio trên TV, tôi kinh hoàng và tạ ơn Chúa, nhưng lòng vẫn luôn luôn lo sợ cho đoạn đường bão tố còn lại. Vừa lo cho đoạn đường đi, vừa lo cho bầu trời Washington, D.C. Nếu bão tố như vầy thì chẳng còn gì là mùa hoa anh đào nữa! Quả thật, mùa hoa đã ngắn, lại còn rất mong manh vô cùng! Mong manh như những công việc mình sắp xếp, như “mưu sự tại nhân”, và “thành sự tại thiên” vậy!

Đoạn đường ra đi vất vả vậy đấy! Tôi đã không chớp mắt một tí nào suốt đêm hôm ấy. Nhưng sau nỗi vất vả chúng tôi đã có được niềm vui. “Sau cơn mưa thì trời lại sáng”. Qua khỏi Pittsburg, trên đường xuống phía nam về Washington, D.C., bầu trời trở nên trong xanh và đẹp đẽ, cộng thêm vào đó, hình ảnh của một mùa hoa anh đào giữa thủ đô Hoa Kỳ tạo nên hưng phấn và nhiều khích lệ, cho nên tôi không còn biết mệt là gì. Và nỗi ước mơ thực sự đã thành hiện thực khi chúng tôi dừng chân đổ xăng trước khi vào khu vực vòng đai thủ đô Washington, D.C. Một cây anh đào đầy hoa trắng muốt, thoang thoảng hương thơm, ở một góc vườn của cái “auto repair” đối diện với “gas station”. Nhìn thấy hoa anh đào, tôi phóng ra khỏi xe, băng qua đường, trèo lên hàng rào gỗ của tiệm sửa xe, bẻ lấy một cành hoa như một phần thưởng tự ban cho mình sau một đêm đầy vất vả! Hoa anh đào trắng trên nền trời trong xanh, ôi đẹp quá chừng! Chung quanh cánh hoa lại có màu hồng hồng tim tím làm tôi liên tưởng đến hình ảnh của người con gái tỉnh nhỏ trong bộ đồ bà ba trắng với đường viền hơi hồng hồng tím tím. Thon thả và mong manh như cánh hoa. Còn lòng em thì trinh trắng lắm! Hoa thiên nhiên và hoa Evà vườn địa đàng đều rất đẹp và dễ làm rung động lòng người…

Người ta đồn đại về vẻ đẹp của Washington, D.C. trong mùa hoa anh đào cũng không quá đáng lắm. Hoa anh đào làm cho Washington D.C. có một lịch sử, có một khởi điểm bắt đầu cho một mùa xuân. Đó là một biểu tượng của giới trẻ. Rất nhiều đôi trai gái rủ nhau về mừng lễ của hoa, của tình yêu, của tuổi trẻ, của thanh bình và hạnh phúc. Giữa thủ đô của quyền lực, của chính trị, của chiến tranh, của đầu não bom đạn, những đôi trẻ quấn quít một vòng tay, nằm tình tự bên nhau trên thảm cỏ xanh cạnh tòa nhà Quốc Hội. “Peace be with you” (John 20:19 -31) là Lời Chúa chúc lành cho các môn đệ hôm nay, Chúa nhật sau Lễ Phục Sinh. Họ không cần biết đến ai. Không cần lo âu toan tính. Chỉ có thanh bình và tình yêu. Không có bóng dáng cảnh sát và bắt bớ! Duy chỉ có một tòa nhà có hàng rào và lính gác, đó là White House. Còn các tòa nhà khác đều diễn tả một vẻ an bình. Du khách đi lại tham quan vui vẻ! Hình ảnh này làm tôi mơ ước về một thế giới thật sự chỉ có hòa bình, thật sự chỉ có tình yêu. Từ bên trong lẫn bên ngoài. Bên ngoài Washington, D.C. có vẻ an bình, không có cảnh sát đứng canh, không nhìn thấy vũ khí phòng vệ, nhưng tôi tự biết rằng họ đã có những đôi mắt “thần” đang nhìn tất cả, theo dõi tất cả, và biết tất cả. Chỉ cần xảy ra một chuyện gì, cảnh sát, FBI…xuất hiện ngay tại chỗ! Vẫn là một nơi xem ra an bình, nhưng chưa có thực sự. Ta vẫn còn mơ một ước mơ. Mơ một chỗ an bình thực sự như lời Chúa đã hứa: “Peace be with you”.

Trở lại với vẻ đẹp mà hoa anh đào đã làm cho nơi quyền lực nhất thế giới này trở thành thơ mộng, lãng mạn, và an bình. Hoa ở rải rác các khuôn viên trong Washington, D.C. , nhưng có một chỗ vô cùng độc đáo và tuyệt đẹp. Hồ nước và anh đào! Hồ Tidal Basin nằm giữa Thomas Jefferson Memorial và Washington Monument . Xung quanh hồ là hoa anh đào. Hoa phủ rợp bóng đường đi. Hoa bay chơi vơi trong gió. Hoa nở trên cây, rơi trên đường, rớt trên cỏ, bám vào vai, đeo trên tóc, trôi trên mặt nước hồ. Hoa khắp nơi. Hoa phủ kín quanh hồ. Hoa bao che hàng ngàn cặp tình nhân đang dìu nhau bước dưới hoa. Từ xa nhìn lại, không thấy người đâu mà chỉ thấy hoa mà thôi. Nhưng thực ra hàng ngàn du khách đang ẩn mình dưới hoa.

Dưới một gốc hoa anh đào, trong tầm mắt tôi đi tới, một đôi trẻ ôm nhau tình tự. Chàng trai trẻ tóc vàng, mũi cao, người Mỹ. Cô gái xuân thì tóc đen, da vàng, có lẽ Nhật. Chàng trai đưa tay hái một bông hoa anh đào ngay trước mặt, trao cho người yêu. Rồi thì thầm câu gì không ai nghe được, nhưng đều hiểu. Sau câu nói, chàng cúi xuống, cô gái Nhật ngước mặt lên, đôi môi chờ đợi. Một nụ hôn rơi nhẹ trên môi khi tôi đi tới. Nhẹ như cánh hoa anh đào rơi. Và cũng chóng vánh như bông anh đào nở. Ba ngày một kiếp hoa đào nở nhanh như một cơn gió thoảng! Như nụ hôn đầu đời! Rồi họ ôm chặt lấy nhau lâu hơn là nụ hôn. Những vòng tay quấn lấy nhau như những cành cây anh đào cong queo, khúc khuỷu, đưa dài ra lối đi, che phủ và ôm trọn lấy con đường tình nhỏ bé phía dưới, chạy quanh bờ hồ. Sống giữa rừng hoa anh đào, thoang thoảng một mùi hương nhẹ nhàng của hoa, tôi nghĩ rằng tình cảm của các đôi tình nhân sẽ trở nên đằm thắm và mặn nồng hơn. Họ không cần phải dùng một loại nước hoa nào khác để hấp dẫn nhau ngoài hương hoa nhè nhẹ cũng đủ đưa nhau vào tình sử rồi! Vẻ đẹp và hương thơm của hoa anh đào làm tăng thêm cường độ ‘phừng phưng’ của các đôi trẻ đã đành, những cặp tình nhân già đã thực sự lớn tuổi, cũng tìm đến đây để sống lại những thổn thức ngày xưa. Ngồi thả chân xuống bờ hồ, soi mình trên giòng nước, ngắm nhìn những cánh hoa anh đào nhỏ bé bay nhẹ nhàng theo cơn giĩ thoảng, trải dài trên mặt nước hồ, rồi bồng bềnh trôi theo làn sóng nhỏ lăn tăn. Soi bóng mình hay soi cánh hoa tàn? Một kiếp người hay kiếp hoa? Những ngày tháng yêu đương phơi phới đã qua rồi, bây giờ còn lại gì? Còn chăng là những ngày sót lại như cánh hoa tàn, trôi theo giòng thời gian lặng lẽ? “Một ngày như mọi ngày” bồng bềnh nổi trôi kiếp nhân sinh thầm lặng cuối đời!

Không cứ gì phải là những cặp tình nhân mới tìm đến đây để nghe tâm sự dâng tràn, rất nhiều người như tôi, một mình, ngồi đấy, ngắm hoa anh đào, mà nghe vang lên lời ca trong bài hát “Mùa Hoa Anh Đào”: “Chuyện đời như một giấc chiêm bao mà thôi”!

— Phải, tuổi trẻ của mình đã đang qua đi hồi nào có hay?

— Phải, mình đến đất xứ người đã bao năm? Và làm Linh Mục được mấy năm? Sao nghe như chỉ là giấc chiêm bao!

— Phải, mình đang ngồi đây, thủ đô Washington, D.C. ngắm hoa anh đào cũng như một giấc mơ. “Weekend” này đang qua nhanh. Mùa hoa năm 1999 đang đi vào k› niệm! Như một thoáng qua! Chưa đầy một giấc mơ!

— Phải, thực tại hiện hữu xem ra có vẻ mơ màng quá, như là đang ở trên đỉnh núi mù sương vì tính chất mong manh của thời gian tính gắn với thân phận con người. Đời người cứ như là mơ. Nay còn mai mất. Mà mất rồi vẫn cứ ngỡ như còn. Như là giấc mơ thôi!

— Phải, kiếp người như kiếp hoa, kiếp sống phù du, sớm nở tối tàn. Ba ngày của một bông hoa, hay hai tuần của một mùa hoa, hay ba vạn sáu ngàn ngày của một đời người, nếu so với cõi đời bất tận thì ngắn ngủi quá!

Người Nhật Bản đã dùng hình tượng của hoa anh đào để diễn tả một nhân sinh quan, một cái nhìn về con người có vẻ bi quan, nhưng là sự thật. Người Việt Nam cũng đã nhìn như thế trong những thành ngữ như: “bóng câu qua cửa sổ”, hay “phù du sớm nở tối tàn”. Trên bình diện suy lý tự nhiên, thì cuộc đời, quả thật là bi quan như vậy chứ còn chối chạy được gì nữa, nếu không có ánh sáng siêu nhiên chiếu rọi, cái nhìn của Đức Tin soi chiếu qua biến cố Phục Sinh của Đức Kitô, thì phải ngậm ngùi và xót xa cho thân phận kiếp người!

Sáng Chúa Nhật, trên đường trở về Chicago, chúng tôi ghé nhà thờ tham dự thánh lễ. Chúa đã dẫn đưa tôi đi. Đi đến đâu trong dịp này cũng gặp hoa anh đào. Trên đường trở về–xa lộ 270–“exit 4, turn East on Montrose”, chúng tôi ghé nhà thờ St. Elizabeth, số 917 Montrose Road, Rockville, Maryland 20852 . Ngôi nhà thờ nhỏ bé, xinh đẹp, ngự trị giữa rừng hoa anh đào. Anh chị cùng đi với tôi đều phải thốt lên niềm mơ ước: “Phải chi cộng đoàn Công Giáo VN Chicago mình được nhà thờ như thế này”! Phía trước nhà thờ là một hàng cây hoa anh đào đang thời nở rộ. Xung quanh nhà thờ “parking lot” rất rộng rãi. Cách xa nhà thờ dăm bước có hai con đường được che phủ bởi hai hàng hoa anh đào giao nhau như hai bàn tay đan các ngón tay lại-(Tildenwood and Everlyn). Từ hai con đường này dẫn vào một vùng “neighborhood” với khoảng mười mấy con đường phủ ngập hoa anh đào. Ơi chao, đẹp quá sức! Tôi chưa bao giờ thấy cuộc sống ngập trong hoa như thế! (Ngoại trừ đám tang với hàng trăm bông hoa ném xuống mồ)!

Trong thánh lễ khi suy niệm về bài Phúc Âm John 20: 19-31,

Vào buổi chiều ngày thứ nhất trong tuần, vì sợ người Do Thái, “cửa nhà” các môn đệ họp đóng kín. Chúa Giêsu hiện đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho các con”

Tôi bị chia trí vì hoa anh đào. Nghe chữ “cửa”, qua khung cửa sổ nhà thờ, tôi nhìn thấy một cành hoa anh đào chiếm nửa khung cửa sổ. Tôi trở về bài phúc âm cũng từ hoa anh đào.

Việc Chúa Giêsu Chết làm cho các ông sợ hãi, và bi quan! Cái chết luôn luôn làm cho con người sợ hãi và bi quan! Nhưng niềm tin vào Chúa Sống Lại làm các ông vui mừng! Cuộc đời chóng vắn của Chúa nơi trần thế–33 năm–có khác chi một Đóa Hoa Anh Đào! Quá ngắn ngủi! “Too short”! Quá mong manh! “Too fragile”! Các tông đồ đã nhìn thấy Đóa Anh Đào này cũng tàn lụi đi mà xót xa, nuối tiếc, bi quan, và chán nản. Nhưng Chúa đã hiện ra và cho các ông thấy rằng Đóa Hoa Anh Đào này đã sống lại và trở thành vĩnh cửu, “forever”, thì các ông bèn vui mừng, phấn khởi.

Lạy Chúa, dù cuộc đời có ngắn ngủi và mong manh như cánh hoa anh đào đã làm con buồn và bi quan, xin gia tăng niềm tin vào sự sống lại của Chúa giúp con vui mừng như các tông đồ khi xưa. Chúa đã làm người như kiếp hoa anh đào để trở thành bông hoa Anh Đào Vĩnh Cửu kiểu mẫu, xin giúp con sống trọn kiếp hoa anh đào, phù dù kiếp sống, mong manh thân phận, trinh trắng lòng thanh, hương thơm cuộc đời, rồi tàn nhẹ theo gió, về với Vĩnh Cửu cùng Ngài. Amen.

III. Tình Yêu Thiên Chúa

Trong cuốn băng thánh ca của Linh Mục nhạc sĩ Văn Chi, với chủ đề Trầm Ca Tin Yêu, xuất bản vào mùa đông 1998 tại California, bài “Trong Quỹ Đạo Tình Yêu” có một lời ca rất thơ và đẹp như sau: “Nếu con là cánh buồm, lênh đênh giữa mù khơi, Chúa sẽ là ngọn gió, gọi con về phía mặt trời. Nếu con là phượng hoàng, mỏi cánh đi vào chân mây, Chúa sẽ là tình thương, dìu dắt con tháng ngày”.

Cám ơn nhạc sĩ đã gợi cảm xúc giúp tôi đi vào cầu nguyện, và suy niệm sâu hơn! Lời ca tuy rất văn chương bóng bẩy nhưng tôi vẫn cảm thấy thiếu điều gì, hình như chưa đủ mạnh để diễn tả hai khía cạnh: sự vô cùng của tình yêu Thiên Chúa và trạng thái khẩn trương, cần thiết tình yêu của nhu cầu con người! (Tình Yêu của Đấng vừa là Đấng Tạo Hóa vừa là Đấng Cứu Chuộc).

Buồm gặp gió thì trôi. Như một hiện tượng rất là tự nhiên, tất yếu và coi như đương nhiên nữa. Nếu không gặp gió thì cũng vẫn trôi, nhưng trôi chầm chậm. Đâu có sao! Phượng hoàng mỏi cánh thì cần sự giúp đỡ, xin dủ tình cứu vớt. Mới mỏi thôi, đâu đã gãy cánh đại bàng mà lo, nếu có giúp một chút thì cũng có gì là to tát, lớn chuyện lắm đâu!

Nhưng trong cuốn phim Saving Private Ryan tôi thấy thỏa mãn được cả hai chiều kích, vừa diễn tả được nhu cầu cấp bách của con người, vừa đạt tính chất hy sinh cao cả của tình yêu Chúa Kitô.

Cuốn phim đoạt 5 huy chương của giải Oscar 1999, với 11 “nominations”. Chuyện phim kể về một câu chuyện đã xảy ra hồi Đệ Nhị Thế Chiến khi quân đội Mỹ đổ bộ xuống bờ biển Normandy của Pháp, để tiếp cứu quân đội đồng minh chống trả với Phát xít Đức.

Trong câu chuyện này, tài tử Tom Hanks đóng vai Đại úy Miller, được trao trách nhiệm dẫn một toán cảm tử quân 8 người xông vào vùng đất địch để giải thoát cho một đồng đội có tên là Ryan. Bộ chỉ huy giao đặc nhiệm này cho Đại úy Miller chỉ vì tình thương đối với bà Ryan. Bà có 3 người con bị báo cáo là đã tử trận tại chiến trường rồi, nhưng thực ra thì còn một người nữa chưa chết, mới chỉ bị kẹt trong vùng đất địch mà thôi. Vì thế mà Đại úy Miller bằng mọi giá phải cứu sống Ryan về cho bà mẹ đáng thương đó!

Để cứu được Ryan, 8 người lính cảm tử đã phải trải qua những cảnh tượng ghê rợn nhất của bom đạn, chết chóc, máu me, và thương tích. Thật là hãi hùng với cảnh tượng một người lính đã bị thương cắt cụt một cánh tay, cánh tay còn lại cứ ôm chặt cánh tay cụt của mình mà chạy như điên. Một người lính đã bị thương lòi một đống ruột ra ngoài đang cố gắng nhồi nhét đống ruột bầy nhầy trở lại bụng mình. Cảnh một anh lính kêu khóc gọi mẹ thê thảm như một đứa con nít. Hay dã man hơn nữa, cảnh một người lính Đức đâm lưỡi lê vào ngực người lính Mỹ, rồi theo cơn căm phẫn từ từ đẩy lưỡi lê vào sâu hơn, siết hơn trong tiếng thì thầm hung dữ bên tai nạn nhân.

Sau cùng thì cả Đại uý Miller và 7 cảm tử quân đều bị hy sinh tại chiến trường, nhưng đặc nhiệm của họ thì hoàn tất. Họ đã cứu được Ryan trở về đất Mỹ, với xứ sở tự do và hòa bình, với người mẹ và gia đình.

Sứ điệp của cuốn phim, được gửi đi ngay từ hình ảnh bắt đầu phim. Sau chiến tranh, Ryan dẫn vợ và con ra thăm mộ của 7 chiến sĩ cảm tử quân, rồi quay sang hỏi vợ: “Was I a good man?”, “Tell me! Am I a good man?”, “Em ơi, hãy nói cho anh biết anh có phải là một người tốt không”? Hay nói một cách khác, “Em ơi, hãy nói cho anh biết, anh đã không làm phí phạm mạng sống của những người chiến sĩ này chứ”? Hay, “Em ơi, cuộc đời hiện tại của anh, có sống xứng đáng với sự hy sinh của họ không? Hãy nói cho anh biết, anh đã không lãng phí năm tháng được trả bằng máu của họ chứ”?

Sứ điệp đó là những lời trăn trối cuối cùng của Đại úy Miller cho Ryan trước khi chết, “Earn this”. “Có được ngày hôm nay” là một món nợ lớn lao đã chất lên cuộc đời anh đấy! Anh có sống xứng đáng để “có” được đời sống của những người đã hy sinh cho anh không?

Có hai khía cạnh để suy nghĩ về Tình Yêu Thiên Chúa:

1. Về Phần Con Người

Nói chung, những người Kitô hữu, không riêng gì các tu sĩ, linh mục, cũng phải nói đến món nợ này, món nợ mà máu Chúa Đức Kitô đã đổ ra cho chúng ta trên cây thập giá mà chúng ta tưởng niệm trong tuần thương khó, được gọi là Tuần Thánh. Chúng ta cám ơn Chúa vì sự hy sinh cao cả này. Chúng ta có được ngày hôm nay, “earn this” nhưng tự vấn lương tâm, cuộc sống của chúng ta đã xứng đáng với sự hy sinh của Chúa không?

2. Về Phần Chúa Kitô

“Không có tình yêu nào lớn hơn người liều mạng sống vì người mình yêu”. Đại úy Miller đã hy sinh mạng sống cho một người không quen biết. Ryan không phải là bạn, chỉ là một người xa lạ. Chúng ta đối với Chúa Kitô, không những chỉ là một người xa lạ bàng quang mà thôi, nhưng còn là một tội nhân nữa. Chính loài người chúng ta giết Chúa. Nhưng Chúa đã coi chúng ta là bạn, là người yêu, để chết hy sinh cho chúng ta.

Tôi luôn mang một món nợ trong đời: Nợ tình! Nợ tiền còn có thể trả được. Nợ tình thì biết trả làm sao! Tình người đôi khi đã quá bao la, huống chi Tình Chúa lại rất vô cùng! Mỗi người trong đời đều cảm nghiệm cái vô cùng đó. Và làm sao diễn đạt, thể hiện phần nào cái vô cùng đó trong đời sống, đó là vấn đề của kẻ được gọi là “có đạo”.

Có một người thân về thăm Việt Nam, mua tặng tôi một tập nhạc của Trịnh Công Sơn, “Tuyển Tập Những Bài Ca Không Năm Tháng”. Sau phần lời ngỏ là trang mở đầu những bài nhạc với lời tâm sự được viết bằng tay (hand-writing) của chính tác giả: “Sống giữa đời này chỉ có thân phận và tình yêu. Thân phận thì hữu hạn. Tình yêu thì vô cùng. Chúng ta làm cách nào nuôi dưỡng tình yêu để tình yêu có thể cứu chuộc thân phận trên cây thập giá đời”.

Theo tôi biết, tác giả không phải là người Công Giáo, nhưng rất tôn trọng tự do của mỗi người và các tôn giáo nên đã viết “làm cách nào”. Mỗi tôn giáo, mỗi người có một cách khác nhau. Tác giả là nghệ sĩ sẽ làm theo cách của tác giả. Cũng đúng thôi, ta không thể bắt người không cùng niềm tin làm theo cách của ta. Nhưng rõ ràng, mỗi người mỗi cách. Giáo dân có cách riêng. Tu sĩ, linh mục có cách riêng của mình để làm cho “tình yêu có thể cứu chuộc thân phận trên cây thập giá đời”.

Có thể nói những ai đã mang lấy tâm tư tôn giáo thì đều biết phải làm cách nào rồi! Cách ấy Chúa Giêsu đã dạy, và chính Ngài đã làm. Cách ấy nhiều người đã làm, như chàng đại úy Miller và các cảm tử quân đã làm cho Ryan. Các chiến sĩ đã hy sinh cho Tổ Quốc, cho Nhân Quyền, Hòa Bình và Công Lý trên trái đất. Hoặc như Mẹ Têrêxa đã làm cho dân nghèo ở Ấn Độ và trên thế giới. Cách ấy cha mẹ chúng ta đã làm cho chúng ta. Những người thân yêu đã làm cho ta. Và tôi, tôi luôn mang “món nợ” đó trên mình. Món nợ tình yêu! Món nợ đó làm tôi trăn trở để phải tự hỏi mình mỗi ngày là “Am I a good man?”

Lạy Chúa, nếu con có dám bạo gan mà hỏi: Chúa ơi! Giáo dân ơi! Bạn bè ơi! Người thân ơi! “Tell me, was I a good man?” Và nếu Chúa cũng như mọi người đều thật lòng trả lời thì con cũng khó nghĩ lắm, vì sự thật sẽ rất mất lòng! Amen.

LM. Joseph Nguyễn Thái

go top

 

trang chính |   lời giới thiệu  |   sống lời chúa  |   truyện ngắn |  liên lạc

copyright © 2004 nguyentrungtay