trang chính |   lời giới thiệu  |   sống lời chúa  |   truyện ngắn |  liên lạc



 

Nguyễn Trung Tây, SVD 
phiếm luận tháng 9
bố, đại hội giới trẻ, olympics bắc kinh, niềm tin việt nam
Ngoại trừ linh mục, tu sĩ, thần học gia, và những người học thần học, có lẽ không mấy người để ý đến một chi tiết có liên quan đến chủng tộc và văn hóa của Đức Kitô; đó là, Đức Giêsu là một người Do Thái. Bởi Ngài sinh ra vào những năm đầu tiên của công nguyên, cho nên Ngài nói tiếng Do Thái, ăn bánh mì, cá chiên, và uống rượu...



niềm tin việt nam
,
_________________________ ảnh nguyễn trung tây

     

Tháng Chín Úc Châu kéo về với ngày của những Ông Bố (Father’s Day), ngày vinh danh những người bố Úc Châu gốc Tây và gốc Việt. Nhưng có lẽ đặc biệt nhất vẫn phải vinh danh những ông bố Úc gốc Việt nhiều hơn, bởi những hy sinh kiên nhẫn âm thầm trong suốt bao nhiêu năm qua để con cái vươn lớn trưởng thành ganh đua với thanh niên người Úc gốc Tây. Như đã nói trong một lần trong bài phiếm luận “Bố Việt Nam và Đức Tính” đăng trong Dân Chúa của số tháng 9 năm ngoái, mỗi khi nhìn thấy thanh niên Úc gốc Việt ra trường, đứng sánh hàng ngang vai với các bạn sinh viên cùng khóa, người người Việt Nam trên toàn nước Úc vẫn không thể nào quên được đằng sau những thành công của con em Việt Nam vẫn là hình bóng của những ông bố Việt. Mà thật sự là như vậy, bởi đời bố tiếp tục hy sinh cày ngày cuốc đêm nơi công xưởng, đời con của ngay ngày hôm nay có dịp vươn lên trổ nụ đơm hoa bát ngát hương thơm thành công nơi học đường, công xưởng, và văn phòng trên khắp các miền đất Úc. Tháng Chín của Bố Úc Châu lại về, xin được gửi tới ngàn vạn cánh hồng tới những ông bố Việt Nam trên toàn lãnh thổ Úc Châu.

 

Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2008

Tháng Chín đã tới, dư âm của Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2008 vẫn còn vang vọng trên những câu truyện hằng ngày. Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2008 là một cơn sóng thần Tsunami lớn, kéo tới đánh thức hơn hai mươi triệu người Úc đang ngủ vùi với niềm tin trong một xã hội đã bị tục hóa quá lâu. Có lẽ nhiều người vẫn còn nhớ hơn 125 ngàn người hành hương đã ngủ đêm tại sân đua ngựa Randwick để canh thức cầu nguyện với Đức Giáo Hoàng. Đêm đó trăng Sydney rực rỡ hơn bao giờ hết. Vầng trăng tỏa sáng lung linh trên vòm trời như muốn cản bớt lại sương đêm đang bắt đầu buông mình nhỏ hạt ướt đẫm những túi ngủ của khách hành hương. Bên cạnh nhóm hành hương của giáo xứ Sacred Heart của Cabramatta, New South Wales của chúng tôi là một nhóm hành hương trẻ măng của Grand Rapids, Michigan. Trong suốt giờ canh thức, họ nghiêm trang quỳ gối, cầu nguyện, tay cầm nến cháy sáng long lanh đôi mắt sáng ngời niềm tin. Trời! Tôi thật sự là cảm động bởi chính mắt tôi chưa bao giờ nhìn thấy tuổi trẻ tây phương của Bắc Mỹ lại sốt sắng, trang nghiêm và thành kính đến như thế. Thế đấy, sức mạnh Thánh Linh thổi tới thay da đổi thịt toàn thể phố phường Sydney và tuổi trẻ thế giới hành hương cả một tuần lễ. Thực vậy, nguyên suốt cả một tuần lễ dài với bao nhiêu sinh hoạt nhộn nhịp trên đường phố Opera House và ngoài bến cảng Barangaroo, cảnh sát đông hơn kiến của Úc Châu vẫn không một lần phải nhọc nhằn cất tiếng than van về giới trẻ. Không, tuổi trẻ của Đại Hội Sydney là một tuổi trẻ hơn cả dư thừa nhựa sống, nhưng vẫn kiên nhẫn nhường bước cho nhau giữa đám đông đang tấp nập hừng hực cầm cờ quốc gia tiến về bến cảng Barangaroo chào mừng Đức Giáo Hoàng. Phép lạ nào đã xảy ra khiến cho người trẻ của khắp năm châu trên dưới 500 ngàn người kéo về Sydney bừng bừng lửa nhiệt thành nhưng vẫn ngoan hiền như những chủng sinh thánh thiện của nhà thờ Công Giáo. Xin thưa, chẳng có phép lạ nào khác, ngoài phép lạ của Niềm Tin. Sự thật là như thế, bởi vì niềm tin, cho nên cảnh sát Úc không phải phí phạm một tờ giấy phạt cho bất cứ một người khách hành hương tuổi trẻ nào của World Youth Day 2008 tại Sydney. Sydney! Ơi Sydney của một thời Thế Vận Hội 2000 thân thiện, giờ này nối tiếp với cháy sáng rực rỡ vinh quang của Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2008. Sydney! Ơi Sydney, cơn sóng Tsunami kéo tới cuốn trôi chuyển động tâm hồn thế tục của người Úc. Sydney! Hỡi Sydney, cả nước Úc và thế giới rộn ràng nhận ra ân sủng Thánh Linh tuôn đổ xuống trên đầu khách hành hương Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới 2008.

Tiếp tục giữ lửa Thánh Thần cháy sáng trong tâm hồn của mình nhé Sydney, và những người hành hương Đại Hội Giới Trẻ 2008.

 

Olympic Bắc Kinh 2008

Tháng 9 kéo về với Thế Vận Hội Olympics tưng bừng nở hoa trên đất Bắc Kinh. Mặc dầu gặp bao nhiêu chống đối cho một lần rước đuốc Thế Vận Hội, rồi là đe dọa tẩy chay bởi những vi phạm trầm trọng của chính quyền Bắc Kinh về nhân quyền với người dân Tây Tạng, cuối cùng Đại Lễ Khai Mạc đã rộn ràng khai mạc vào tối thứ Sáu ngày 8 tháng 8 vừa qua. Trên khán đài danh dự, người viết nhận ra có sự hiện diện đầy đủ các nhân vật quan trọng của các siêu cường, Tổng Thống Bush của Hoa Kỳ, Tổng Thống Putin của Nga, Thủ Tướng Kevin của Úc, Thủ Tướng Gordon của Anh. Khi những hàng chữ này đang lên khuôn, Bắc Kinh vẫn dẫn đầu với tỷ số huy chương, huy chương vàng nhiều nhất. Vào ngày thứ ba của Thế Vận Hội, thứ Hai, 11 tháng 8, Nam Hàn về nhì với tổng số huy chương, chỉ đứng sau Bắc Kinh. Phái đoàn lực sĩ Việt Nam, như vẫn từ bao lâu nay, tiếp tục rất khiêm nhường với con số huy chương.

 

Niềm tin Việt Nam

Tháng Chín cũng kéo về với bài “Kitô Giáo và Sự hiểu biết về Linh đạo Á Đông” của Phạm Xuân Khôi đăng trên Vietcatholic ngày 6 tháng 6 năm 2008. Qua bài tường trình về lời nhắn nhủ đặc biệt của Đức Thánh Cha Biển Đức tới các Đức Giám Mục của Mã Lai, Singapore, và Miến Điện trong ngày 6 tháng 6 năm 2008 vừa qua, độc giả có dịp nhận diện ra sự chuyển mình của Thần học Công Giáo từ thời Công Đồng Vatican 2 (1963-1965). Dẫn chứng Tông Huấn Ecclesia Asia, Đức Thánh Cha đã nhắc nhở các vị lãnh đạo của Giáo Hội Á Châu là,

…nếu muốn cho đức tin được phát triển, nó cần phải đâm rễ sâu trên đất Á Châu, nếu không người ta sẽ coi nó như một thứ đồ nhập cảng từ ngoại quốc, xa lạ với văn hóa và truyền thống của dân tộc quý huynh…

Ai cũng biết một trong những nét nổi bật của Công đồng Vatican II là Giáo Hội đã kêu gọi người tín hữu hãy diễn tả tình yêu Thiên Chúa trong sắc mầu văn hóa mà Ngài đã ban tặng cho từng dân tộc trên mặt quả địa cầu. Lắng nghe lời kêu gọi của Công đồng Vatican II, người tín hữu Phi Châu đã chọn lựa diễn tả nhân diện của Ngôi Lời Thiên Chúa qua màu da và góc cạnh của một người thanh niên Phi Châu.

 

Một cách tương tự, người tín hữu Á Châu minh họa những câu chuyện trong Kinh Thánh qua lăng kiếng và dung mạo của người phương Đông.


           
Tiệc cưới Cana, Tranh Qi He

Đặc biệt về trường hợp Việt Nam, khi thi sĩ Hàn Mặc Tử viết xuống câu thơ “Như song lộc triều nguyên” để diễn tả lời kinh Kính Mừng, nhà thơ có lẽ đã trở thành người tín hữu Việt Nam đầu tiên vung bút ngọc viết xuống những câu thơ trong ngôn ngữ và tình tự của người Việt.

Nhưng có lẽ có một số nhỏ vẫn còn thắc mắc, không hiểu rõ tại sao Công đồng Vatican II và Đức Giáo Hoàng Biển Đức 16 mới đây đã đề nghị và khuyến khích những người tín hữu của Á Châu hãy minh họa và diễn tả chiều dài của dòng lịch sử ơn cứu độ qua hương vị quen thuộc của nền văn hóa quê cha đất tổ.

Xin thưa, chính vì nguồn gốc cốt lõi của thần học Kitô.

Thực vậy, ngoại trừ linh mục, tu sĩ, thần học gia, và những người học thần học, có lẽ không mấy người để ý đến một chi tiết có liên quan đến chủng tộc và văn hóa của Đức Kitô; đó là, Đức Giêsu là người Do Thái. Bởi Ngài sinh ra vào những năm đầu tiên của công nguyên, cho nên Ngài nói tiếng Do Thái (Aramaic), ăn bánh mì, cá chiên, và uống rượu. Và cũng bởi Ngôi Hai Thiên Chúa là một người Do Thái, nếu muốn tìm hiểu về tư tưởng của Đức Giêsu, và dòng lịch sử ơn cứu độ, thần học gia và người Kitô hữu của muôn muôn thế hệ không còn chọn lựa nào khác ngoại trừ chọn lựa đọc sách lịch sử và tục ngữ của người Do Thái, mà ngày hôm nay người tín hữu gọi là Cựu Ước, hay Sấm Truyền Cũ.

Dựa vào bối cảnh lịch sử của sách Cựu Ước vừa được tóm tắt và trình bày, người viết xin phép được đặt vấn đề,

— Nếu Ngôi Hai Thiên Chúa không sinh ra làm người Do Thái, mà lại là người Việt Nam, thì chuyện chi đã có thể xảy ra?

Kính thưa quý độc giả, tiền đề thần học, “Nếu Ngôi Hai Thiên Chúa sinh ra làm người Việt Nam”, có thể dẫn đến một số giả thiết như sau,

(1). Sách lịch sử Việt Nam sẽ được cả thế giới học hỏi, nghiên cứu, và gọi là Cựu Ước. Và những câu ca dao và tục ngữ của kho tàng văn học dân gian sẽ nằm trong sách Huấn Ca (Proverbs) của Cựu Ước.

(2). Chương thứ 1 của Sách Sáng Thế Ký có thể sẽ bắt đầu với những hàng chữ, “Đế Minh, cháu ba đời của Thần Nông, một hôm đi tuần thú phương Nam, gặp nàng Vụ Tiên. Hai người lấy nhau, sinh ra Lộc Tục. Đế Minh phong Lộc Tục làm vua phương Nam, đế hiệu Kinh Dương Vương, đặt tên nước Xích Quỷ. Lộc Tục lấy Long Nữ sinh ra Lạc Long Quân”.

(3). Câu chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh sẽ xuất hiện trong chương 6-9 của Sáng Thế Ký, ba chương nói về trận Đại Hồng Thủy đã từng tiêu diệt tất cả mọi sinh vật trên mặt quả địa cầu, ngoại trừ gia đình ông Noah. Và câu chuyện Bánh Dày Bánh Chưng của Hoàng tử Tiết Liêu sẽ xuất hiện trong chương 1 của Sáng Thế Ký, bởi nếu phân tích Sáng Thế Ký 1-2:1-4a và sự tích Bánh Dày Bánh Chưng, người đọc sẽ nhận ra cả hai câu chuyện này đều chia sẻ chung với nhau một mẫu số về vũ trụ quan và về mối liên hệ giữa không gian và trái đất.

(4). Sự tích An Tiêm và Trái Dưa Hấu có lẽ đã xuất hiện trong chương 2-3 của Sáng Thế Ký, hai chương nói về trái cấm và lý do tại sao Adam và Eva bị lưu đày. Và câu chuyện An Dương Vương xây thành Cổ Loa đã nằm trong chương 9 của Sáng Thế Ký, chương sách bàn về tháp Babel và nguyên nhân tại sao ngọn tháp bỗng dưng trở nên lưng chừng dở dang.

(5). Quan trọng hơn hết, một trong những điều đã xảy ra nếu Ngôi Lời sinh ra làm người Việt Nam là Ngài nói tiếng Việt, và Ngài sẽ không nói, “Ta là Bánh hằng sống nữa”, nhưng “Ta là Cơm hằng sống”, bởi vì Đức Giêsu không ăn bánh mì, nhưng Ngài ăn cơm.

Trong cùng một dòng tư tưởng Niềm tin Á Châu, xin được dừng lại một phút để bàn về danh từ quen thuộc Bánh. Tôi nhớ đã rất nhiều lần, trong phần hội thảo về ngôn ngữ đức tin, tác giả đã hỏi những người hiện diện trong những buổi cấm phòng về ý nghĩa của chữ “Bánh” trong câu nói “Ta là bánh hằng sống” của Đức Giêsu. Gần như đây là một con số tuyệt đối, một trăm phần trăm những người hiện diện trong những buổi cấm phòng và hội thảo đều không biết chữ Bánh ở đây chính là Bánh Mì. Mà tại sao lại là Bánh Mì? Xin thưa, lý do rất đơn giản, bởi vì Đức Giêsu là người Do Thái, một dân tộc lấy bánh mì làm lương thực chính trong những bữa ăn hằng ngày, cho nên, Ngài đã nói, “Ta là Bánh Mì hằng sống”. Cho nên câu “Ta là Bánh Hằng Sống” không gợi trong tâm tưởng của người tín hữu Việt Nam một hình ảnh gì. Ngay cả nếu chúng ta cộng thêm vào câu nói một chữ “Mì” cho sát nghĩa, câu nói “Ta là Bánh Mì hằng sống” vẫn không nói lên được tầm quan trọng và ý nghĩa thần học đích thực mà Đức Giêsu muốn trình bày trong nền văn hóa Việt Nam, chính bởi vì người Việt Nam không ăn bánh mì. Viết tới đây, tự nhiên tôi nhớ tới những người khách hành hương mới đây thôi của Đại Hội Giới Trẻ 2008 từ Việt Nam qua. Trong số những người hành hương, có nhiều người không ăn nổi thức ăn của người Úc, bởi người Úc không ăn cơm mà họ ăn bánh mì. Nguyễn Công Minh của phái đoàn 1964 trong bài phỏng vấn “Tâm tình Đại Hội Giới trẻ 2008” cũng nói, “Không quen đồ ăn Tây…chỉ ăn [được] trái cây thôi”. Nhiều giáo dân của đoàn 1964 gặp tôi cười nói, “Trời ơi, nguyên tuần Đại hội vừa qua nhớ cơm quá sức. Ăn đồ ăn Úc nhai không nổi!”.

Cho nên, để hiểu trọn vẹn ý nghĩa thần học câu nói của Đức Giêsu, người tín hữu Việt Nam phải hiểu câu nói Đức Giêsu, “Ta là Bánh Mì hằng sống”, chính là, “Ta là Cơm hằng sống”; bởi nếu không có bánh mì Manna trong sa mạc, dân du mục Do Thái đã chết đói trong hoang địa. Tương tự như thế, nếu không có Cơm, người Việt sẽ gục ngã, sẽ chết đói xanh xao như trận đói Ất Dậu 1945 trong lịch sử đã từng lấy đi hơn hai triệu mạng sống của người Việt Nam.

Cho nên thần học gia nói chung và thần học gia Á Châu nói riêng sẽ không lấy làm lạ nếu Đức Giáo Hoàng Biển Đức đã nhắn nhủ các vị Giám Mục của Mã Lai, Singapore, và Miến Điện vào ngày 6 tháng 6 vừa qua là phải làm sao đó để “đức tin được phát triển, nó cần phải đâm rễ sâu trên đất Á Châu…”. Bởi nếu không, như Đức Thánh Cha đã nói, đức tin Kitô sẽ trở thành “…như một thứ đồ nhập cảng từ ngoại quốc, xa lạ với văn hóa và truyền thống của dân tộc…”.

Kính thưa quý độc giả,

Theo như Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, nước Việt Nam xuất hiện trên bản đồ thế giới từ những ngày của năm 2879 trước công nguyên. Nếu lấy đây là một con số mốc để tính chiều dài lịch sử của nước Việt Nam, người Việt Nam đã đi qua gần 5000 năm chiều dài của vòng quay trái đất. Gần 5000 năm đã trôi qua, người Việt Nam có trong tay cả một gia tài lịch sử, văn chương, và ca dao tục ngữ, để người tín hữu Việt Nam sử dụng để đức tin Kitô được phát triển và đâm rễ sâu trên đất Á Châu Việt Nam. Sử dụng những chất liệu của Việt Nam để diễn tả tình yêu Thiên Chúa cho người tín hữu Việt Nam, người Việt Nam sẽ cảm nghiệm được nhiều hơn, sâu sắc hơn, và thực tế hơn về một niềm tin Việt Nam vào Đức Kitô.

Bên cạnh cả một kho tàng Kinh Thánh và truyền thống 2000 năm của Giáo Hội, người tín hữu Việt Nam chúng ta sẽ tiếp tục học hỏi thêm về Lời Chúa đã được mạc khải qua tổ phụ Abraham trong dòng lịch sử Cựu Ước, qua Đức Giêsu trong dòng lịch sử Tân Ước, và qua cả một kho tàng văn hóa quý giá mà tổ tiên Lộc Tục và Mười Tám Vua Hùng đã để lại cho chúng ta, con cháu của Lạc Long Quân và Thánh Dũng Lạc.

Nguyễn Trung Tây, SVD 

  go top

 

trang chính |   lời giới thiệu  |   sống lời chúa  |   truyện ngắn |  liên lạc

copyright © 2004 nguyentrungtay