trang chính |   lời giới thiệu  |   sống lời chúa  |   truyện ngắn |  liên lạc


       

Trần Nguyên Đán
Khai Bút Đầu Xuân


 

       

Sau Giáng Sinh, nhà thờ nơi tôi đang làm việc người ta dọn các phong cảnh Giáng Sinh đi và thay thế các phong cảnh Tết vào. Bên trong sanctuary là một cây mai (dĩ nhiên là giả) cao đụng đến trần, hoa nhiều hơn mọi năm vì có người đi Việt Nam về mua hoa giả nhiều nhiều với giá tương đối rẻ. Trong nhà thờ, cuối hallway, là một cây đào (giả luôn), cho đúng điệu đào mai ngày tết. Văn phòng của tôi chắc chắn sẽ có một bình hoa đào nhỏ (thật) do một người tín đồ đi …chôm chỉa trong rừng (hoa đào Mỹ) mang về tặng Mục sư. Từ trong văn phòng nhìn ra, tôi đã có một mùa xuân.

Và cũng từ đây tôi có thể ngồi viết khai bút đầu xuân (y hệt mấy ông già)

Khi viết những chữ này tôi hình dung ra cảnh ông thầy đồ ngày xưa ngồi còm lưng trên chiếu viết những câu đối. Những chữ này cũng xưa lơ xưa lắc giống như các ông thầy đồ vậy, chẳng thấy ai dùng nữa, tất cả chúng ta đều là đồ cũ tất (!). Và Vũ Đình Liên (xin lão bối tha thứ cho tội dám gọi tên cúng cơm ra mà không có chữ gì đi đệm ở trước. Thi sĩ mà có đệm gì ở đằng trước, chẳng hạn như ông, bà, cô, chú… thì thấy không còn là thi sĩ nữa) cũng ở trong một viện bảo tàng nhỏ bé nào đó trên trái đất bao la, có lẽ rất ít người nhớ đến, nếu không ai nhắc, vào một dịp đầu xuân, tình cờ, thấy lại một tấm hình, ai đó mới vẽ, hay đã vẽ lâu rồi mà mình mới thấy.  
 

 

Vũ Đình Liên, cái tên đã xa xưa lắm, cái tên làm mình hình dung ra một cảnh tượng cũ cũ, buồn buồn, như một tờ giấy cũ đã ngã vàng, đâu đó, gọi là ông đồ già, có lẽ là một trí thức hết thời, không biết có làm thơ viết văn gì không, nhưng chắc chắn là biết chữ, biết viết chữ, múa chữ, múa đẹp, mà biết múa chữ thì tâm hồn cũng múa may chút ít: hồ Hoàn Kiếm, hồ Thuyền Quang, hồ Tây, hồ Trúc Bạch (tên hồ đẹp hơn chính nó), đó là những cái hồ người ta hay nhắc đến trong nhạc và tôi nhớ, dăm ba cái hồ nữa rải rác, bao quanh Hà Nội, một số hồ nay đã biến thành ao, với một chiếc chiếu (còn mới), một cái nghiên mực tàu, vài tờ giấy đỏ, cây bút lông, vừa viết vừa kiếm sống. Chí ít cũng đủ nuôi sống ông lão. Nếu có vợ con (chắc có) thì vợ con phải đi làm thêm mới đủ.

mỗi khi hoa đào nở

lại thấy ông đồ già

bày mực tàu giấy đỏ

bên phố đông người qua

Có hai ba hình ảnh ít nhất cũng làm cho lòng tôi ấm áp hôm nay. Đó là hình ảnh những hoa đào đang nở, tôi đang hình dung ra cảnh hoa anh đào nở giữa thủ đô nước Mỹ, dọc bờ sông Potomac, nơi tôi đã ở nhiều năm, nơi người ta đi dạo lẫn vào trong hoa, và hoa thì lẫn vào trong mây, đẹp mê hồn như cảnh thiên thai mà Lưu Nguyễn đi lạc và quên mất đường về, chứ không thể hình dung ra cảnh hoa đào nở ở Hà Nội, nơi tôi chưa bao giờ chứng kiến, nơi người ta chặt đào đi rao bán từng cành trên phố. Thấy kỳ nhưng mà vui, có nét văn hóa đặc biệt Việt Nam. Mùa xuân vui thế, lẽ ra chỉ để đi chơi thôi, sao lại phải đi làm. Ông đồ già này thấy mùa xuân đến, thì biết là mùa làm ăn của mình cũng đến. Ông chỉ có một nghề, nghề múa bút, vẽ chữ. Nghề này chỉ làm được vào mùa xuân, lúc thiên hạ vui và sẵn sàng chi tiền lấy …hên. Thôi thì nhân lúc người ta đi chơi, mình cũng chen lấn vào để đi làm, vừa làm vừa chơi, một công hai chuyện. Nghề này thấy vậy mà tao nhã, không dành giật bon chen, lại nhẹ nhàng, mọi người trọng nể. Trong hơi xuân bao la của đất trời đang cộng hưởng, hình ảnh một ông đồ ăn mặc tươm tất hơn mọi ngày, trông đẹp lão (có lẽ ban ngày ở nhà ông mặc áo thun quần đùi, cặm cụi thổi bếp nấu nồi cám lợn phụ bà đồ), ngồi chen vào cái cộng đồng tíu tít, bên lề đường, chen lẫn vào hoa và người, trông không có vẻ làm ăn, mà như đang ngồi chơi xuân. Trông vừa hay hay mà vừa tội nghiệp. Lẻ loi thế nào ấy. Chẳng là vì ông đang hiện diện nhầm lẫn trong một thế giới điện tử, cái gì cũng e, e hết, email, eticket, ebay…

Tôi biết ít nhất có hai người bạn viết văn, làm thơ, than phiền rằng họ không thể làm cách giống như cụ Vũ nhà ta ngày xưa để có chút tiền còm mà sống, truyện ngắn, thơ, họ vắt đầu vắt óc viết ra, gởi đi, ngày nào cũng mở báo ra xem coi bài có được đăng chưa, có đăng thì mừng rỡ ôm tờ báo vào lòng như thể ôm người yêu dấu, nếu là báo mạng không thể ôm được thì ngồi nhìn chăm chăm vào mặt monitor của laptop hay computer bằng đôi mắt đắm đuối chiêm ngưỡng như vừa gặp được Văn Quân hay Tương Như trong mộng. Chiêm ngưỡng cái gì, chữ của mình, viết ra, sửa lại chục lần, bắt thuộc lòng rồi, mà nhìn trên màn hình thấy như lạ, như mới. Thấy sao mà hay, mà đẹp. Có ai tình cờ ngó qua, cho một lời bình luận rất hà tiện, đôi khi thi sĩ hay văn sĩ đang bị …bón, rớt được hai chữ, thơ hay, truyện được, tôi thích, khi bón quá chỉ một chữ hay kênh kiệu, thì cũng ngồi ngẫm nghĩ cả ngày. Không ai khen, thì ngày cũng trôi qua. Thế thôi. Không làm sao đem truyện, thơ ra giữa Times Square mà rao bán một đồng hai đồng một bài tùy thơ dài thơ ngắn như chàng tuổi trẻ làm thơ nọ, cũng không thể bắt chước Vũ Đình Liên, bày mực tàu giấy đỏ, bên phố đông người qua, ở Việt Nam may ra được, chứ ở bên Mỹ, Canada hay các nước Châu Âu, họ cười cho mà chết (hay có thể họ cũng sẽ xúm xít bao quanh để xem, vì thấy lạ, ai biết? Những người Âu Tây bây giờ rất “sính” của lạ Châu Á, vì ít ra nó cũng khác với những cái hamburger phải ăn hàng ngày, ăn quen thế thôi chứ thấy hết ngon rồi (cái này thì tôi biết ).

Tôi an ủi, thôi viết cho vui thế thôi, coi như là chuyện tay trái đi chơi, còn tay phải kiếm tiền, nuôi tay trái. Cho vui, thế thôi. Thơ, truyện mà đem ra bán thì …dị lắm, mất chất văn chương đi, dù nó rẻ như bèo thật, nhưng không phải ai cũng có bèo mà bán. Hãy hãnh diện vì chí ít bạn cũng có cả ao…bèo. Bạn hậm hực bảo thì thôi vậy. Thì thôi vậy chứ làm gì nhau bây giờ. Vui đi nhé, và tiếp tục vớt bèo đi bán trong năm nay nữa. Chuyện ấy chẳng có bao giờ thay đổi được cả đâu, dù ông Tổng Thống Mỹ có gào cả ngàn lần chữ change change change thì nó cũng giống như một vũ điệu cha cha cha, nghe hoài (coi hoài) cũng chán.

Tôi phải trở lại với ông đồ già đang ngồi đâu đó, bây giờ có lẽ đã xê dịch chiếc chiếu ra đến đền Ngọc Sơn, là nơi có đông các ông các bà các cô các chú đi qua đi lại, nhất là các bà các cô có nhiều nhu cầu trong năm mới, các bà thì muốn biết năm nay gia đạo sẽ an khang thịnh vượng cỡ nào, chồng có kiếm cớ về Việt Nam thăm cha mẹ già rồi ở riết bên ấy (dĩ nhiên chẳng có con nào có hiếu đến vậy) đến nỗi khi qua lại đây thì đi húp cháo, vì bị laid off không, còn các cô thì muốn biết về tình duyên mình, năm nay có anh Việt kiều nào vô ý rớt vào lưới hay không. Ngày xưa thì còn có nhu cầu bói xem năm nay vượt biên có lọt không. Những người coi bói cũng ngồi lẫn vào các ông đồ, rất dễ lộn.

bao nhiêu người thuê viết

tấm tắc ngợi khen tài

hoa tay thảo những nét

như phượng múa rồng bay

Tôi phải trở lại với tôi sáng nay, sau một cơn bệnh regular hàng năm vào mỗi độ đông về, là bệnh cảm cúm. Gọi là sau chứ chưa hết hẳn, bệnh cảm cúm đôi khi có những triệu chứng giống như bệnh tương tư, sáng không gặp, khác, chiều gặp, khác, mới sáng đi vòng quanh shopping thoải mái chiều lại phải nằm dật dựa trên sofa y hệt thằng làm biếng, hèn chi bị một người nói là đồ làm biếng cũng chẳng phải là vô cớ. Tôi chăm chú soi mói vào những câu thơ này, là đoạn chẳng cảm xúc gì nhiều, chỉ là một sự mô tả tài nghệ của ông đồ. Ông là một tay múa chữ có tài nghệ. Như phượng múa rồng bay thì chắc chắn có tài, mấy ai đã từng thấy con phượng nó múa hay con rồng nó bay bao giờ, nhưng nhìn thấy những nét uốn lượn, bay nhảy, người ta hình dung ra cảnh ấy. Tôi cũng có vài người bạn có tài nghệ. Tài tưởng tượng. Tưởng tượng ra những chuyện tình éo le gay cấn, vừa lạnh vừa nóng của người khác rồi xưng tôi làm cho nhiều người hiểu lầm là chính mình, không hiểu mình là ai, bị hình dung ra một nhân vật hơi “quái đản”, đeo mặt nạ khôi hài nhưng có những tâm sự hay khóc lóc, ỉ ôi. Đó là tài biến tưởng tượng thành sự thật. Đôi khi tự tử giả, dĩ nhiên là chẳng có chết chóc gì cả, chỉ là một giấc ngủ dài hơn mọi khi. Sự tài hoa của họ làm tôi kinh ngạc, tôi nghĩ như thế là đủ vui cho một đời, chẳng nhất thiết cần đến những giải thưởng như nobel văn chương chẳng hạn (ngoại trừ số tiền thưởng của nó).

Thỉnh thoảng, vào google, hay một cái website nào đó vô tình hiện ra, đọc một truyện, hay bài thơ của một cái tên nào đó, nhắc nhở mình cả một thời hưng phấn, thuở còn thủ trong túi vài chục bạc, hối hả đạp xe ra nhà sách, run rẩy lấy một tờ báo còn thơm mùi mực (ấy là nỗi đam mê háo hức tưởng tượng ra thêm, chứ báo đã in, cắt xén, vào thùng, gởi đi, đến các nhà sách, qua một công đoạn dài, thì thơm mùi mực thế quái nào được nữa) Chưa ra đến cửa đã đọc xong trang đầu, trang mục lục, coi có tên mình không. Không, thì nhét nỗi buồn vào trong bụng cho đỡ đói. Có, thì nhìn bâng quơ hàng cây muồng bên kia đường, nhắn rằng: này, có biết không, một nhà thơ vừa mới ra lò đấy nhé. Một nhà thơ lẹt đẹt, xí trai trong một cái xó xỉnh của một thành phố nhỏ, nghèo nàn, bụi mù, mà sự tài hoa đã bay đến cả thế giới.

Cũng từ google mà tôi đọc thấy ông đồ già.

nhưng mỗi năm mỗi vắng

người thuê viết nay đâu

giấy đỏ buồn không thắm

mực đọng trong nghiên sầu

Tôi bỗng cảm thấy mình muốn khóc. Một nỗi buồn có cớ làm trái tim chao chác. Lạ, trái tim sao dễ xao xuyến quá. Trái tim của một người hay suy nghĩ và viết, dường như mềm hơn trái tim người bình thường, nhưng lạ là vẫn biết tính toán như một nhà toán học. Tôi muốn khóc, chẳng phải vì tưởng tượng ra hình ảnh cô đơn của ông đồ bị …ế hàng ngồi không trên lề đường tội nghiệp quá, mà vì đang nhẩm tính giùm số vốn ít ỏi mà ông đã bỏ ra, mong kiếm chút lời ngày xuân. Giấy này mua bao nhiêu một xấp, bỏ vốn ra rồi không biết viết được tờ nào chưa, lấy lại được vốn chưa. Mực cũng mua bằng tiền chứ, nay đã khô trong cái nghiên (giống như cái gì nhỉ), ngày mai lại phải đi mua mực mới nữa đây, ông lão nghĩ, và đưa đôi mắt buồn nhìn mênh mông ra ngoài trời, không, nhìn một cách van nài những bước chân đang qua, có thời ngừng lại, tíu ta tíu tít, cười nghiêng đầu, môi chúm chím, mà nay đã “phản bội”, ham mới, chạy theo những niềm vui mới. Lỗi tại họ ham mới bỏ cũ, hay lỗi tại thời của mình đã hết, hay cũng chính là lỗi tại mình đã già quá, viết chữ không còn đẹp như xưa. Tôi dùng chữ van nài đối với một ông đồ già như thế, có phải là bất kính không, xin cụ tha thứ cho. Có thể là cụ cũng chẳng cần chi ba cái đứa bội bạc ấy.

Tôi nhìn thấy một bà cụ già, không phải ông đồ già, đang đi qua đi lại trong nhà, như một cái bóng, bà hay nói, nhưng những câu chuyện của bà đã quá cũ, cứ lập đi lập lại hàng ngày, người nghe gần như thuộc lòng từng chỗ nói dài, chỗ nói ngắn, chỗ ngừng lại để nghỉ, chỗ có dấm chấm, chỗ có dấu phẩy, mà bà cứ nói, như cái CD player, bấm vào là nói, không cần ai nghe, miễn mình nói là được. Bà có nhu cầu nói, không có nhu cầu cần ai nghe, nghe được thì nghe, không nghe được thì thôi. Tôi liên tưởng đến ông đồ già, có lẽ ông cũng đã vào đến độ tuổi đó, như thói quen, vác chiếc chiếu, xấp giấy, nghiên mực ra ngồi vào giữa mùa xuân, giữa những đào, mai, cúc, thủy tiên, thược dược…, ngồi đó cho vui, ai đến thì vào, thì viết, không thì thôi, chắc chẳng có gì buồn. Gia cảnh ông chắc cũng không đến nỗi túng quẫn đến độ cần một vài câu đối có trả tiền. Chắc ông chỉ làm “văn nghệ” như những người viết hiện đại hải ngoại hôm nay thôi, chứ tiền bạc gì? Nhưng mà bác Vũ nói rằng giấy đỏ cũng buồn, không thắm, mà mực thì đọng trong nghiên, sầu, lẽ nào người, lại không buồn sao? Buồn này có chút tủi thân vì bị quên lãng, mà có lẽ cũng buồn vì chiều nay về nhà bà lão sẽ ngước đôi mắt kèm nhèm lên nhìn thầm hỏi, nào, hôm nay có được xu nào không, ông lão?

Tôi cúi xuống nhìn sâu hơn vào bài thơ ông đồ già:

ông đồ vẫn ngồi đấy

qua đường không ai hay

lá vàng rơi trên giấy

ngoài trời mưa bụi bay

Từ đây là một nỗi buồn day dứt. Hãy hình dung ra cảnh tượng một người ngồi đấy, chẳng phải một người đang vui, mà là một người đang buồn, chẳng còn tuổi trẻ nữa, hàm râu lưa thưa dưới cằm dường như nặng, đôi mắt dường như hơi mờ đi, những cánh đào nở đâu đó mà chẳng thấy rõ mầu hồng tươi thắm của nó nữa, vào giữa tiết Xuân, người ta vẫn qua lại đấy, nhưng chẳng ai dừng lại. Chỗ này sao mà “tình đời đen bạc” quá. Họ đi qua không ngừng lại, nên “cửa hàng” viết câu đối của ông vắng, chứ đâu phải vắng khách vãng xuân. Cái câu qua đường không ai hay này là một câu giết chết lòng người đi được. Người ta “hay” chứ, một con người ngồi “chình ình” giữa đường như vậy mà sao không “hay”, nhưng con người ấy đã trở thành một quá khứ, nên không ai “hay” nữa. Họ có lẽ đang chú ý vào một đám rước tân kỳ nào đó bên ngoài đường cái, một buổi văn nghệ đầu xuân với nhiều ca sĩ nổi tiếng, có thể từ hải ngoại về, đang rất “hot”. Họ đi qua vô tư, dửng dưng, như thời gian, không ngừng bước lại. Tôi hình dung ra cả những chiếc lá mùa thu vài tháng trước nằm bên lề đường mà người phu quét đường có lẽ quét sót vì thỉnh thoảng phải ngừng tay lắng nghe tiếng đại bác đêm đêm dội về thành phố (??), bị gió thổi hất lên, như chiếc hài cong rách rưới bạc màu, lảo đảo bay lại gần ông lão chia sẻ sự cảm thông, như chờ có thế, ông lão đưa tay lên nhặt chiếc lá vàng rơi, nhìn chăm chú vào cái sinh linh bé nhỏ bạc mệnh ấy (đúng với bản chất hơi ủy mị của văn nhân) rồi cúi nhìn xấp giấy đỏ còn dày, nghiên mực tàu đã khô, nghĩ tới bữa ăn chiều nay. Trời ơi, còn ray rứt hơn nữa, như vẫn chưa đủ làm cho não lòng người, ngoài trời mưa bụi bay. Mưa bụi ơi sao còn bay mà chi, hãy chết đi.

Mùa xuân buồn “thúi ruột” đi lận.

Tôi hơi trách rằng sao lúc này ông đồ chẳng xếp chiếu, xếp giấy, xách mực đi về quách cho rồi, chờ đợi gì nữa. Tôi chắc rằng bà đồ, cũng như mọi người, dù gì thì gì, đã thủ sẵn một nồi thịt kho và dưa giá đủ ăn lai rai vài ngày, chai rượu đế, vài gói mứt. Cảnh nhà thanh bần mấy, tết nhất cũng sắm sửa chút ít để vui gượng kẻo mà với người ta. Đám cháu nội cháu ngoại (chắc năm bảy đứa, cái kiểu dài lưng tốn vải ăn no lại …nằm, chắc thế nào cũng đông con, đông cháu, ấy là tôi suy luận ra thế) đang nằm ngồi nhảy nhót lê la trong gian nhà tranh tiều tụy, nghèo nhằm nhò chi, những khuôn mặt bé bỏng ngây thơ ấy đáng giá gấp ngàn lần những đồng xu do viết lách mang lại. Về đi, cụ đồ (về đi, Mike)

Nhưng cho đến cái đoạn cuối này đây, thì “ruột” càng “thúi” hơn nữa. Thúi đến nỗi mắt phải nhắm lại.

năm nay hoa đào nở

không thấy ông đồ xưa

những người muôn năm cũ

hồn ở đâu bây giờ

Tôi nghĩ rằng bác Vũ viết xong hai câu cuối của bài thơ này thì tinh hoa đã phát tiết hết cả ra ngoài nên sẽ không còn một bài thơ nào của bác hay hơn nữa. Dĩ nhiên bác còn nhiều bài hay, nhưng với tôi, bài này là hay nhất, ai dành bài nào khác hay hơn mặc kệ. Cái cảm nhận thô thiển của tôi là vậy. Nhiều người chỉ làm có một bài thơ mà nổi tiếng khắp nơi còn hơn người làm cả trăm cả ngàn bài thơ, ngày nào cũng làm, thơ tuôn ra dễ dàng như đi…, mà chẳng có chút tiếng nào (mình chứ ai). Tôi đã thử rán bắt chước bác làm vài câu hay giống vậy, mới đọc lên đã thấm vào đến tận xương tủy, làm rùng mình, muốn khóc, mà mắc cỡ không dám khóc, phải đi vào phòng tắm rửa mặt làm ra tuồng mặt bị …dơ. Mà chỉ làm được những bài đọc lên nhiều khi thấy chẳng ý nghĩa gì cả, chữ nhiều hơn ý, đôi khi còn bị hiểu lầm. Chẳng hạn như bài gì đó mới đăng vào đầu năm, đoạn cuối nói về cảnh một Mục sư ngồi trước cửa nhà thờ chờ những con chiên đến muộn, dáng ngồi của ông ta thấy tội nghiệp sao đó đến nỗi người homeless đi ngang phải ném lại một cái nhìn thương cảm. Câu này chính tôi đọc lên cũng bị …sốc. Một người khác hơi bị sốc, hỏi: sao lại vẽ ra một hình ảnh tàn tạ của một Mục sư như vậy, có ích gì? Thật ra tác giả bài thơ đó không chủ ý vẽ lên hình ảnh tàn tạ của Mục sư, nhưng chỉ muốn nói về tấm lòng của Mục sư với bầy chiên của Chúa giao cho mình. Ổng thương chiên, ra ngồi chờ chiên, chứ ai bắt. Nhưng thơ vốn dật dờ chữ nghĩa và ý nghĩa, nên người ta không hiểu. Thơ như thế là thua bác Vũ xa lăng lắc, bác chỉ nói một câu, mà người ta thấm thía, và không bị sốc bởi hình ảnh tội nghiệp của ông đồ già.

Tôi còn hình dung ra ông đồ có lẽ vẫn còn sống, nhưng đã bỏ nghề viết câu đối, vì đã lỗi thời, không ai cần nữa. Ông có lẽ đã đổi nghề, một nghề thực tế kiếm ra tiền cho bảo đảm cái bụng. Bây giờ người ta thích những bức tranh màu sắc lung tung, không đầu không đuôi, nhiều lúc trông dị hợm, không hiểu hết, nhưng vẫn tấm tắc khen đẹp, khen hay, vì nhiều người đã khen vậy, mà mình chê, tức là đi ngược lại với thị hiếu chung của quần chúng, hay chính mình là một tay kém cỏi không hiểu hết những nét bí ẩn sâu kín của nghệ thuật, hoặc giả thuộc loại …sến (chữ này không phải của tôi, tôi dùng tạm vì chưa tìm được chữ khác) Mà ai muốn vạch áo cho người ta xem lưng bao giờ (chính mình cũng có bao giờ thấy lưng của mình đâu), nên cứ nói theo cách nhiều người nói cho chắc …ăn.

Nhưng tôi mới xem được một tấm hình và một bản tin ngắn trên một tờ báo ngày, người ta nói về một cuộc thi viết (vẽ, múa) thư pháp ở Nhật đầu năm. Ồ thì ra cái lạc hậu cổ hủ bây giờ người ta lại dựng nó dậy được rồi đây này. Không chừng vài năm nữa nếu người ta thành công trong việc dựng dậy những xác chết, thì thư pháp sẽ trở lại thị trường quốc tế. Nói đâu cho xa, đầu xuân nước Việt vài năm trở lại đây, các ông đồ bà đồ trẻ lại bày hàng ra giữa phố mà múa chữ cho nhân gian, được thiên hạ bu lại mua rần rần rất khích lệ viết tiếp, viết đổ mồ hôi giữa hơi xuân lành lạnh (không sao, vì có tiền). Tôi đoán ông đồ của bác Vũ chắc đã không còn nữa, nhưng “hồn” (này là hồn thơ, không phải linh hồn, chúng tôi tin rằng linh hồn người ta sau khi chết đã về ở hẳn một trong hai nơi, chẳng còn lang thang dương thế làm con ma chết đói vì mỗi năm chỉ được “ăn” có một lần) vẫn còn đâu đó, sẽ vui vẻ đứng nấp đâu đó, nhìn đám “đồ’ hậu sinh bày mực tàu giấy “trắng” bên phố đông người qua. Và có đông người đứng lại, chứ không đi luôn.

Hay chứ. Tôi tin rằng những ông bà đồ mới trong thế kỷ hậu hiện đại (không biết dùng chữ có đúng không) này sẽ sống lâu hơn ông đồ già ngày xưa và ngay cả khi họ đã qua đời rồi thì tên họ vẫn còn lưu lại trong lịch sử văn học nước nhà.

Tôi ao ước có một cái happy ending cho ông đồ già, mà không thể làm thơ hay bằng một góc .. tiền lẻ của bác Vũ, nên nhờ ai làm thơ hay, múa (hay vẽ) cho vài câu cuối thật…positive, tiếp theo câu

những người muôn năm cũ

hồn ở đâu bây giờ

của nhà thơ Vũ Đình Liên nhé.

Thì tôi cám ơn nhiều và gởi lời chúc lành đầu xuân đến cho tất cả quý vị.

Trần Nguyên Đán
 


trang chính |   lời giới thiệu  |   sống lời chúa  |   truyện ngắn |  liên lạc

copyright © 2004 nguyentrungtay