trang chính |   lời giới thiệu  |   sống lời chúa  |   truyện ngắn |  liên lạc


 

Nguyễn Trung Tây, SVD
mùa xuân, mùa hy vọng

Có người bỏ về làng tiếp tục nghề đánh cá.
Có người âm thầm ngồi than khóc trong bóng tối.
Có người treo cổ tự sát



 

 

Chương Một

Sách Giảng Viên chương 3 câu 1 viết,
          “Mọi sự đều có lúc,
                  mọi việc đều có thời”.
           Một thời để sống trong bóng tối,
[1]
                   và một thời để sống với ánh sáng.
           Một thời để sám hối,
                   và một thời để hân hoan.
           Một thời để bỏ đi hoang,
                   và một thời để quay về.
           Một thời để khóc trong tủi nhục,
                   và một thời để khóc trong hoan ca.
           Một thời để chết đi,
                   và một thời để sống lại.
           Một thời để xám đen hy vọng,
                   hy vọng nhạt nhòe,
                      hy vọng khô cạn,
                   và một thời để ửng hồng hy vọng,
                      hy vọng sung mãn,
                         hy vọng tràn đầy.

Chương Hai

Câu chuyện bắt đầu xảy ra vào một buổi chiều.

Nơi khu vườn vắng lặng, người thiếu nữ đang đi thơ thẩn lang thang một mình.

— Chị Hai.

Người con gái giật mình. Nàng ngơ ngác nhìn quanh quẩn,.

— Chị Hai.

Một lần nữa tiếng gọi vang lên. Người thiếu nữ dương cao cặp mắt to tròn nhìn lên cành cây trước mặt. Nàng nhận ra hình dạng thân quen của chú bé rắn con nhập nhòe lẫn lộn trong đám lá xanh.

— Chị Hai.

Con rắn tiếp tục[2],

— Có phải Thiên Chúa nói, “Chúng con không được ăn hết tất cả mọi thứ trái cây trong Vườn hay không”?

Người con gái trả lời,

— Trái cây trong Vườn thì được ăn. Nhưng riêng trái của cây nằm ở giữa Vườn, Thiên Chúa nói, “Các con không được ăn, không được động tới, nếu không sẽ phải chết”.

Con rắn nói với người thiếu nữ,

— Không phải. Chẳng chết chóc chi hết, bởi Thiên Chúa biết ngày nào anh chị ăn trái cây đó, mắt anh chị sẽ mở ra, và anh chị sẽ trở nên như những vị thần biết điều thiện điều ác (Sáng Thế Ký 3:1-5).

Người thiếu nữ ngước nhìn cành cây. Trái chín mượt mà nhảy múa mời gọi. Nàng ngơ ngác ngẩng mặt nhìn lên, bầu trời trong xanh cao thẳm xa vời. Nàng đăm chiêu cúi mặt nhìn xuống, đất đen lung linh rộng mở. Nàng xa xôi nhìn về hướng trước mặt, cánh cửa khu Vườn rộng mở thênh thang.

Nàng nhìn lên, trái chín to tròn lơ lửng đong đưa. Mùi thơm của trái chín nương theo gió chiều ngào ngạt bay vào khứu giác của người thiếu nữ. Nàng giơ tay hái một trái gần nhất bỏ vào miệng. Chưa hết, nàng còn hái một trái khác mang lại cho chàng thanh niên.

Một vài người vẫn còn khó chịu ít nhiều với câu chuyện trong khu Vườn. Người ta bực tức vì sự nhẹ dạ cả tin của người phụ nữ. Người ta khó chịu với sự dại khờ của người thanh niên tên Đất [3] . Người ta hờn oán Thiên Chúa đã biết con người yếu đuối, thế mà còn đem trồng giữa khu Vườn cây Biết Lành Biết Dữ. Người ta phiền trách ông bà thủy tổ không chịu suy nghĩ đến những hậu quả tai hại cho một lần chơi dại. Người ta thắc mắc tại sao Chúa không nhắm mắt bỏ qua cho một lần con cái của Ngài dại khờ. Giận Thiên Chúa, tức người đàn ông, ghét người đàn bà, người ta ghét lây sang cả con rắn lấp ló rình rập trên cành cây.

“Cả giận mất khôn” là câu tục ngữ ông bà tổ tiên đã dạy dỗ con cháu hơn bốn ngàn năm, bởi khách quan mà nói, nếu để ý một chút, bạn sẽ nhận ra con rắn đã nói lên một sự thật,

— Không phải. Chẳng chết chóc chi hết, bởi Thiên Chúa biết ngày nào anh chị ăn trái cây đó, mắt anh chị sẽ mở ra, và anh chị sẽ trở nên như những vị thần biết điều thiện điều ác (Sáng Thế Ký 3:4-5).

Trong câu nói này, con rắn trình bày hai điều. Thứ nhất, con người sẽ không chết sau khi ăn trái cấm. Thứ hai, con người sẽ trở nên như các vị thần biết sự lành và sự dữ.

Về điều thứ nhất, sự thật là cả hai ông bà nguyên tổ còn sống sau khi đã can đảm đứng lên phất cao cờ cách mạng [4] .

Riêng chuyện ăn xong sẽ biết điều tốt và điều xấu thì lại càng đúng một trăm phần trăm. Trước khi hai người ngứa miệng, có ai cảm thấy thẹn thùng với bộ quần áo da của mình đâu, nhưng ăn xong, câu chuyện Chữ Đồng Tử và Tiên Dung vào thời Hùng Vương thứ Ba mới bắt đầu xảy ra.

Có một chi tiết lạ nhưng chúng ta ít khi để ý tới trong khi đọc ba chương đầu tiên của Sáng Thế Ký, đó là, hình như Ông Trời [5] chỉ cấm người con trai, còn người con gái thì không. Nghe lời xúi dại, nàng hái một trái cho vào miệng, nhai ròn tan. Ăn xong rồi cũng chưa thấy có chuyện chi. Phải đợi đến lúc chàng trai nuốt trôi xuống cổ trái cấm, câu chuyện lạ mới xảy ra. Đúng ra trong khi Ông Trời căn dặn con người về những tác hại của cây Biết Lành Biết Dữ, người con gái chưa được tạo thành. Lúc đó trong khu Vườn chỉ có chàng Đất, và Ông Trời nói với chàng,

— Tất cả mọi thứ trái cây trong Vườn, con cứ ăn; nhưng trái của cây Biết Lành Biết Dữ, con không được ăn; giây phút mà con ăn, chắc chắn con sẽ chết (Sáng Thế Ký 2:16-17).

Có lẽ bởi Giavê Thiên Chúa không cấm người con gái, cho nên phải đợi đến khi người con trai ăn vào, câu chuyện lạ mới xảy ra.

Sau khi chàng thanh niên ăn xong, mắt của họ sáng ra... Họ dẫn nhau trốn trong bụi rậm của khu Vườn. Trong bóng tối của bụi cây, hai người nhìn nhau ngậm ngùi thương tiếc cho một thời đã qua.

Bây giờ không còn là một thời để sống với ánh sáng. Bây giờ đang là một thời để sống trong bóng tối. 

Chương Ba

Câu chuyện xảy ra vào một buổi chiều tối.

Mặt trời đỏ ối chưa chịu buông mình rớt xuống làn nước xanh đậm đặc của biển Địa Trung Hải. Chiều hôm nay, một buổi chiều Xuân oi ả bởi gió sa mạc chuyển hướng. Ðã hơn ba ngày nay gió nóng kéo về thổi tung tóe mịt mờ bụi cát trong kinh thành. Cát bụi bốc cao. Cát bụi mịt mù xóa nhòa những nẻo đường dẫn về thành phố Giê-ru-sa-lem. Trong làn gió mịt mờ, người dân kinh thành cảm nhận ra vị muối mặn chát của Biển Chết hòa tan trong bầu không khí khô khốc của một buổi chiều tối.

Vị chủ nhân trẻ tuổi của tòa lâu đài thức dậy sau giấc ngủ trưa. Đầu óc chàng nặng nề như vương mang những con siêu vi khuẩn cảm cúm của mùa Đông. Bắt đầu từ sáng hôm qua, tin tức chiến sự mặt trận biên giới tấp nập bay về. Nguyên một buổi sáng hội họp với bá quan văn võ trong triều đình đã cầy sâu lên vầng trán của vị hoàng đế trẻ tuổi những đường lằn dọc ngang. Mơ màng không định hướng, chàng tuổi trẻ đặt những bước chân lên nền đá xanh lơ mát lạnh của hành lang dài thăm thẳm. Chàng nhìn ra xa, vùng đất sa mạc mờ ảo mở rộng trải dài tới đường chân trời. Vị hoàng đế cúi xuống, nhà cửa trong kinh thành chen kẽ, xếp lớp hiện ra trong cặp mắt nâu đậm của chàng. Bỗng dưng chàng tuổi trẻ nhớ tới vị hoàng đế tiền nhiệm. Chiều hôm đó, trời oi ả nóng bức tương tự như buổi chiều ngày hôm nay, nếu Sa-mu-en đừng ghé tới thị trấn nhỏ bé Bết-lê-hem tìm kiếm chàng; nếu cha chàng đừng sai người ra ngoài cánh đồng tìm kiếm đứa con trai út. Chàng nhớ tới hoàng tử Gio-na-thân, người bạn thân đã nằm xuống cùng với những sụp đổ của một triều đại huy hoàng trong quá khứ. Chàng vẫn nhìn xuống, nhìn chăm chú. Vài nét ngỡ ngàng ngạc nhiên thoáng hiện ra trên vầng trán suy tư.

Vị hoàng đế trẻ tuổi ngoắc tay gọi người lính cận vệ. Vài tiếng thì thào nho nhỏ. Người lính nhìn xuống phía dưới. Vị hoàng đế quay bước về phòng riêng. Người lính đi như chạy xuống cầu thang. Chỉ trong thoáng chốc cánh cửa gỗ nặng nề to lớn của tòa lâu đài từ từ hạ xuống trong tiếng rên rỉ kẽo kẹt của những đoạn xích sắt khổng lồ va chạm nghiến mình vào nhau. Từ phía bên trong kinh thành hai ba người lính cận vệ áo xanh nai nịt gọn gàng trên lưng những con ngựa bạch ào ào phóng ra.

Một khoảng thời gian đã trôi qua.

Vào một buổi chiều ngôn sứ Na-thân tiến vào cung điện. Quan thứ sử trách móc hoàng đế,

— Tại sao nhà vua đã gian dâm với vợ của U-ri-a, rồi lại giết luôn người ta…

Nghe lời kết án của quan thứ sử, người tuổi trẻ nhớ lại chuyện xưa. Trong nghẹn ngào, nước mắt Đa-vit nặng nề tuôn rơi. Từng hạt nước mắt rớt xuống ướt đẫm hoàng bào của người trẻ tuổi.

Bây giờ đang là một thời để sám hối. 

Chương Bốn

Câu chuyện bắt đầu xảy ra vào một buổi sáng.

Ngồi dựa vào vách nhà rêu xanh của túp lều lụp xụp nằm khiêm tốn trong khuôn viên của tòa dinh thự khang trang rộng rãi, người thanh niên vẻ cô độc lơ đãng cúi nhìn gốc đào. Bây giờ đang ngập tràn màu xanh lơ của buổi sáng mùa xuân. Bây giờ đang tràn đầy nụ hoa dại vàng tươi nhỏ li ti mọc vương vãi trên thảm cỏ xanh non. Trong mượt mà thả nhẹ buông rơi của buổi sớm mai, chàng thanh niên lơ đãng cúi nhìn xác chết óng ánh màu sương sớm của chú chim non nằm dưới gốc đào. Trong rực rỡ huy hoàng của một buổi sớm mai, tiếng kêu eng éc của bầy heo đói trong chuồng trộn lẫn tiếng hét giật giọng của người đàn bà nổi lên như hai nốt nhạc lạc điệu,

— Thằng kia!

Người thanh niên hốt hoảng; chàng giật mình.

— Làm chi mà ngồi chết trân ra đó vậy?

Người tuổi trẻ ngơ ngác; chàng nhìn quanh. Người đàn bà mờ ảo thấp thoáng xa xa. Chạy lại nồi cám heo, chàng dùng gáo dừa múc lên những miếng cám vữa nát đổ vào cái sô bằng thiếc. Hai tay chống lên eo, liếc nhìn những con heo thở hồng hộc nhảy chồm lên những khúc gỗ chắn ngang cửa chuồng, người đàn bà chậm rãi bỏ đi trong giận dữ và trong hằn học,

— Biết như vầy thì…thì…thà là tao nuôi con chó! Chó nó còn biết giữ nhà.

Người tuổi trẻ ngẩn ngơ nhìn bầy heo đang gục đầu vào máng tranh giành từng miếng cám vữa. Chàng nhớ lại tối hôm qua bà chủ nhà chỉ quẳng cho hai chén cơm thiu hẩm trộn lẫn với khoai lang sùng. Trong mượt mà thả nhẹ buông rơi của buổi sớm mai, chàng mơ màng thấy mình đang ngồi gõ mõ trong chánh điện của ngôi chùa rêu xanh phủ kín. Trong rực rỡ huy hoàng của buổi sáng mùa Xuân, chàng thanh niên nhớ lại căn nhà của những ngày xa xưa. Nước mắt người tuổi trẻ dâng cao ngập tràn hai gò má cháy đen.

Bây giờ đang là một thời để khóc trong tủi nhục. Bây giờ đang là một thời để bỏ đi hoang.




 

Chương Năm

Câu chuyện bắt đầu xảy ra vào một buổi trưa.

Người đàn bà lầm lũi đi một mình dưới những tia nắng gay gắt của vùng đất sa mạc. Mọi người trong thôn làng giờ này đang yên lặng miệt mài với giấc ngủ trưa. Con đường dẫn tới giếng nước dài hun hút không một bóng người. Nàng nhìn quanh, những con chó lười biếng im lặng ngủ say như chưa bao giờ được chìm sâu vào giấc ngủ no nê; những con mèo lim dim đôi mắt lơ đãng nhìn đàn chuột nhắt chạy nhảy lăng quăng chơi trò cút bắt; những cánh bướm sa mạc màu vàng đậm đặc khép kín đôi cánh, mơ màng trầm ngâm trên những cánh hoa đỏ ối.

Trong yên lặng, nàng đi thẳng tới giếng nước đầu làng.

Do Thái là một quốc gia nằm trong sa mạc. Tìm được nguồn nước nơi vùng đất Trung Đông cỏ khô nắng cháy không phải là một điều dễ dàng. Thông thường trong một thôn làng, người ta chỉ có một cái giếng nước. Đây là một trong những nguyên nhân chính đã biến giếng nước đầu làng thành địa điểm tụ họp của dân chúng trong thôn xóm. Khách lữ hành từ xa tới, nếu muốn hỏi thăm tin tức về những người thân quen sinh sống trong làng, người ta tới giếng nước ngồi [6], đợi chờ dân chúng trong thôn có chuyện phải ra giếng lấy nước về dùng [7]. Nhưng không bao giờ người trong thôn làng đi ra giếng lấy nước vào buổi trưa và đi một mình. Nước giếng buổi trưa không mát và ngọt như nước giếng vào buổi chiều, đặc biệt là trong vùng sa mạc. Khi mặt trời dần dần khuất bóng, những người phụ nữ trong làng mới bắt đầu họp thành từng đoàn dẫn nhau đi ra giếng. Họ đi với nhau để tránh tình trạng có thể bị những người đàn ông bắt nạt hoặc làm phiền tại bờ giếng [8].

Theo như tác giả Gio-an, người đàn bà này đi ra giếng vào buổi trưa, và lại đi một mình (Gio-an 4:6-7). Tác giả của câu chuyện không nhắc nhở lý do nào đã khiến người phụ nữ Sa-ma-ri-a có những hành động lạ kỳ như thế [9]. Tuy nhiên dựa theo những chi tiết của câu chuyện, hình như tác giả cố ý để cho Đức Giêsu trình bày với độc giả Kinh Thánh những lý do đã khiến người phụ nữ đi ra giếng một mình vào giờ trưa nắng.

Theo như Gio-an 4:4-42, trong khi đang ngồi nghỉ tại giếng nước của thành phố Sai-ka, Đức Giêsu thấy người phụ nữ xứ Sa-ma-ri-a một mình đi ra giếng. Ngài nói,

— Cho tôi miếng nước.

Người phụ nữ trả lời,

— Tại sao ông, một người Do Thái, lại hỏi tôi, một người phụ nữ Sa-ma-ri-a, “Cho tôi miếng nước”?

Câu chuyện giữa hai người tiếp tục cho tới khi Đức Giêsu nói,

— Cô hãy về gọi chồng cô ra đây.

Người phụ nữ trả lời,

— Tôi không có chồng.

— Cô nói “Tôi không có chồng” là rất phải, bởi cô đã có năm đời chồng, và người hiện giờ cô đang chung sống không phải chồng của cô. Cô nói đúng.

Câu trả lời của Đức Giêsu có thể đã giải thích lý do tại sao người phụ nữ Sa-ma-ri-a chọn đi ra giếng nước một mình và vào buổi trưa [10].

Dưới những tia nắng gay gắt chói chang của vùng sa mạc, người thiếu phụ nhớ tới cảnh một mình bơ vơ hỳ hục loay hoay với gầu nước. Nàng giơ tay chùi nhẹ những hạt mồ hôi đang lăn dài trên hai bờ má đỏ hồng. Nàng nhìn hai bàn tay nhỏ nhắn với những cục chai cứng. Nàng thở dài.

Bây giờ đang là một thời để sống trong bóng tối. Bây giờ đang là một thời để bỏ đi hoang. 

 


 

Chương Sáu

Câu chuyện bắt đầu xảy ra vào một buổi sáng.

Đám đông chen lấn ồn ào xô đẩy nhau tại một góc của ngôi đền thờ tương tự cảnh quân lính La Mã lùng bắt một người tù chính trị. Tiếng la, tiếng hét, tiếng khóc hòa trộn phá tan bầu không khí trang nghiêm của ngôi đền thờ cổ kính vào một buổi sáng sớm. Người người dương cao cặp mắt nhìn lên. Giữa đám đông hỗn loạn, người ta nhận ra người phụ nữ đang quỳ giữa nền gạch, hai tay ôm mặt khóc nức nở. Mái tóc người con gái đen, dài, rối quăn, xơ xác che kín nửa bộ mặt vẫn còn vương mang những nét kinh hoàng sợ hãi. Vài người trong đám đông hậm hực nhìn người đàn ông vẫn đang im lặng ngồi dựa lưng vào bức tường của ngôi đền thờ. Tiếng ồn ào la hét của đám đông ngưng bặt khi người Biệt Phái cất tiếng,

— Thưa Thầy, người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình. Đúng theo luật pháp của Môi-sen, cô ta sẽ bị ném đá. Thầy nghĩ chúng tôi phải làm sao đây?

Qua làn tóc rối, người thiếu phụ len lén nhìn người đàn ông. Mặc cho mọi người nín thở, im lặng chờ đợi, người đàn ông đưa mắt chậm rãi nhìn đám đông và người thiếu phụ. Sau cùng ông cúi xuống, ngón tay viết trên nền cát những nét chữ nguệch ngoạc.

Theo phong tục Việt Nam, một người phụ nữ trong thôn làng không có chồng mà mang thai, hoặc bị bắt quả tang đang lăng nhăng với một người không phải chồng của mình, bản án dành cho người này thông thường là cạo đầu, bôi vôi. Có những thôn làng, ngoài cạo đầu bôi vôi, họ còn dẫn người đàn bà đi khắp làng bêu xấu. Sau đó họ mang người thiếu phụ bỏ lên bè thả trôi theo dòng sông. Tuy nhiên tôi chưa nghe ai nhắc nhở đến hình phạt dành cho người đàn ông tòng phạm.

Riêng người Do Thái, họ không làm như vậy. Nếu bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, cả hai người trong cuộc sẽ bị dẫn ra đầu làng, cả hai sẽ bị ném đá cho tới chết.

Có một lần, tôi kể câu chuyện Người Thiếu Phụ Ngoại Tình cho một người bạn đạo Phật. Tôi nói,

— Trước câu hỏi của người Biệt Phái, người đàn ông trong câu chuyện đang lâm vào thế kẹt. Trả lời “Yes” không được. Mà trả lời “No” lại càng kẹt hơn.

Bạn tôi thắc mắc,

— Sao kỳ cục vậy?

— Theo như phương cách lý luận của Tây Phương, đây là một trong những trường hợp chết kẹt giữa hai dòng thác cách mạng, dilemma. Cả hai câu trả lời, hoặc là đồng ý hoặc là không đồng ý đều không thỏa mãn cho những đòi hỏi của cả hai phe lâm chiến. “Tôi không biết”, hoặc “Xin lỗi, tôi không rõ cho lắm” cũng không phải những câu trả lời thích hợp cho câu hỏi của người Biệt Phái. Người đàn ông trong cuộc phải kiếm ra cho bằng được câu trả lời thứ ba, không phải “Yes” cũng không phải “No”. Câu trả lời thứ ba phải thích hợp đến nỗi mặc dù đối phương không hài lòng với kiểu “escaping the horns”, họ cũng không làm gì được người bị hỏi.

— Tại sao không được trả lời “Yes”?

— Có hai lý do chính để giải thích tại sao người đàn ông không được trả lời “Yes”.

Thứ nhất, nếu người đàn ông trong câu chuyện đồng ý với bản án đã được xuất hiện từ bao nhiêu lâu nay trong xã hội Do Thái, ném đá người đàn bà cho tới chết, ông ta sẽ mắc kẹt với chính quyền bảo hộ La Mã. Do Thái vào thế kỷ thứ nhất Công Nguyên bị đế quốc La Mã xâm lăng. Quyền quyết định cho một người nghỉ chơi với cuộc sống không thuộc về bất cứ một ai trong xã hội Do Thái thuộc địa. Quyền đó thuộc về nhà nước bảo hộ La Mã. Sống trong một xã hội bị bảo hộ, không người nào thuộc về giới bị trị muốn dây dưa lôi thôi với chính quyền thực dân. Nói bậy nói bạ đụng chạm đến quyền lực của chính quyền phong kiến là một điều không người dân nào thích. Vào thời Pháp thuộc, máy chém, nhà tù là những nơi chờ đợi một người Việt Nam bị người khác tâu vào tâu ra với Phòng Nhì của mật vụ Pháp. Vào năm thứ nhất Công Nguyên, tại Do Thái, đe dọa đến quyền lực của Quan Tổng Trấn Palestine sẽ đưa người đàn ông tới núi Sọ liền. Đó là lý do tại sao người đàn ông không nên đồng ý với bản án ném đá người phụ nữ ngoại tình.

Thứ hai, nếu người đàn ông đồng ý với bản án, ông sẽ mắc kẹt với chính ông ta và những lời giảng dậy của mình. Theo như người đàn ông, con người không nên xét đoán và lên án lẫn nhau, nhưng phải biết thương yêu và tha thứ cho những kẻ thù của mình (Lu-ca 6:27-42). Đối với một người có cái quan niệm bao dung như vậy, làm sao ông ta có thể đồng ý với bản án cạo đầu bôi vôi rồi dẫn người con gái đi khắp làng làm nhục. Đối với một người có tấm lòng nhân từ như vậy, làm sao ông ta có thể đứng yên chứng kiến cảnh tượng những người dân trong làng thả trôi người phụ nữ lầm lỡ trên dòng sông như người Việt Nam đã từng làm. Đối với một người đàn ông có tấm lòng vị tha như vậy, làm sao ông ta có thể về hùa với đám đông, mang hai người trong cuộc ra đầu làng ném đá cho tới chết như dân Do Thái cách đây hai ngàn năm đã từng làm.

— Nếu người đàn ông bày tỏ một thái độ không đồng ý với bản án, trong trường hợp này chuyện gì sẽ xảy ra?

— Trong trường hợp này người đàn ông lại càng mắc kẹt với người Do Thái. Ông ta có thể sẽ bị chụp lên đầu một cái mũ cối to tướng với ba chữ Do Thái gian, bởi ông dám chống lại bộ luật của Môi-sen, bộ Luật đã được lưu hành trong xã hội từ khoảng năm 1250 trước Công Nguyên. Dân Do Thái tuân giữ bộ Luật này theo từng dấu phẩy, dấu chấm; thí dụ, ngày cuối cùng trong một tuần là ngày Hưu Lễ để thờ phượng Ông Trời. Mọi người không được nấu nướng và làm bất cứ chuyện gì hết trong ngày Sa-bát, ngay cả chuyện chữa bệnh hoặc là kéo con lừa từ dưới hố lên. Tệ hơn nữa nếu bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, chiếu theo bộ Luật, cuộc đời của cả hai tòng phạm coi như là chấm dứt (Lê-vi 20:10). Riêng đối với những người không tuân giữ bộ luật Môi-sen hoặc tỏ thái độ chống đối, cuộc đời của người đó cũng sẽ không êm đẹp gì hơn người thiếu phụ trong câu chuyện.

Tôi kết luận,

— Nếu đồng ý với bản án, người đàn ông sẽ mắc kẹt với chính quyền bảo hộ La Mã. Nếu tỏ thái độ chống đối, ông ta sẽ mắc kẹt với đồng hương Do Thái. Người đàn ông đã nhiều lần lên tiếng phản đối cung cách sống theo bộ Luật của người đương thời. Bởi vậy có một số người lãnh đạo trong xã hội tỏ rõ thái độ khó chịu đối với ông ta. Đã rất nhiều lần, họ gài bẫy người đàn ông, cố gắng tìm ra bằng cớ để mang người này ra hai tòa, Tòa Thượng Phẩm của người Do Thái và Tòa Án của người La Mã, giết đi cho bớt gai mắt. Người đàn ông biết rõ điều này khi người ta mang người thiếu phụ tới hỏi ý kiến mình.

Sau khi giải thích cặn kẽ vị thế chết kẹt của người đàn ông, tôi hỏi,

— Nếu bạn là người đàn ông trong câu chuyện, bạn sẽ trả lời như thế nào?

— ???

Bạn tôi im lặng, không nói chi.

Theo như tác giả Gio-an, vì người ta cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ,

— Ai trong các ông là người sạch tội, hãy lấy đá ném người phụ nữ này trước đi (Gio-an 8:7).

Mọi người tự nhiên khựng lại trong khoảng một vài giây. Trong yên lặng hình thể tròn đều của đám đông từ từ méo mó biến dạng. Các cụ cao niên rút lui trước tiên, rồi tới các vị trung niên, sau cùng là những người tuổi trẻ. Trong yên lặng đám đông biến mất để lại khoảng sân trống trải với người thiếu phụ đang ôm mặt khóc nức nở... Bây giờ không còn là một thời để khóc trong tủi nhục. Bây giờ đang là một thời để khóc trong hoan ca.

Chương Bảy

Câu chuyện bắt đầu xảy ra vào một buổi chiều.

Trên ngọn đồi nằm cách kinh thành Giêrusalem hơn nửa cây số, đám đông bao gồm dân chúng kinh thành, người qua đường, khách hành hương Đại Lễ Vượt Qua, những thầy Tư Tế đứng chen kẽ lẫn lộn với quân lính La Mã có nhiệm vụ giữ gìn trật tự. Người ta đứng yên lặng theo dõi cảnh hấp hối của một người đàn ông bị đóng đinh trên cây gỗ hình chữ thập. Người ta đứng yên lặng theo dõi cuộc hành hình một người bị kết án có những lời lẽ phạm thượng tới Thiên Chúa, phá rối trị an trong xã hội, có khả năng dẫn tới một cuộc nổi loạn chống đối nhà nước bảo hộ La Mã.

Máu từ thân thể của người bị thọ hình vẫn đang nhỏ từng giọt. Từng giọt máu đỏ rớt xuống đọng lại thành từng vũng dưới chân cây thập tự.

Những đám mây đen từ hướng tây đang ào ào kéo tới. Bầu trời trong xanh với những tia nắng ấm áp của một buổi chiều mùa Xuân càng lúc càng tối đen dần. Trận cuồng phong bất ngờ đổ chụp xuống đỉnh đồi. Cát bụi ngùn ngụt bốc lên cao tô thêm đậm bầu trời xám đen. Đám đông ngơ ngác nhìn theo những tia chớp sáng lòe chạy bám dọc ngang ngoằn ngoèo trên nền trời, rồi cùng một lúc rủ nhau biến mất nơi rặng núi nằm về hướng đông của kinh thành. Mặt trời chói chang nơi vùng sa mạc hoàn toàn bị che khuất dạng bởi những đám mây đen khổng lồ vẫn đang liên tục kéo đến. Nhờ những tia chớp sáng chói, người người trên ngọn đồi nhận ra bộ ngực gầy mòn xơ xác vì những trận đòn hành hạ từ tối hôm qua không còn di động lên xuống theo nhịp thở yếu ớt nữa. Người đàn ông cúi đầu bất động.

Ngay sát dưới chân cây thập giá, hai ba người đàn bà chợt ngẩng đầu lên cùng một lúc. Họ nhận ra cặp mắt thất thần của người đàn ông đã hoàn toàn nhắm chặt lại. Tiếng sụt sùi chợt như có dịp đổi sang tiếng nấc rồi vỡ òa ra trong tiếng gào thét.

Bầu trời của kinh thành Giêrusalem vẫn còn tối đen.

Bây giờ đang là một thời để chết đi. Bây giờ đang là một thời để xám đen hy vọng.

 

 

Chương Kết

Câu chuyện bắt đầu xảy ra vào một buổi sáng.

Vào một buổi sáng mùa Xuân, có hai người quyết định rời bỏ thành phố Giêrusalem. Trên con đường bẩy dậm dẫn về ngôi làng nhỏ bé Emmau, có hai người mất hy vọng đang đi với nhau.

Bạn thân,

Những mất mát trong cuộc sống khiến ai chẳng cảm thấy buồn phiền tiếc nuối. Cách đây khá lâu, có rất nhiều người cũng đã cảm nghiệm được sự mất mát to lớn cho một giấc mơ. Nhìn hòn đá đang từ từ che kín ngôi mộ, nhiều người có cảm tưởng mình đang lăn tảng đá chôn lấp giấc mơ của chính mình. Còn gì nữa mà mơ! Có người bỏ về làng tiếp tục nghề đánh cá. Có người âm thầm ngồi than khóc trong bóng tối. Có người treo cổ tự sát.

Cuộc sống là một tổng hợp của những buồn và vui, khóc và cười, mất và được. Có những lúc nổi giận, đốt hết. Có những lúc từ bi, thứ tha. Có những lúc mất hết, trắng tay. Những mất mát trong đời là một phần của cuộc sống. Chấp nhận mất mát cũng như chấp nhận ánh sáng ban ngày và bóng tối ban đêm. Chấp nhận mất mát cũng như chấp nhận mình đang còn trẻ và mình cũng đang già. Chấp nhận mất mát cũng như chấp nhận mình là con của bố và của mẹ, có những người chị, người anh, và người em.

Nhưng chấp nhập không thì cũng chưa đủ. Phải hy vọng, hy vọng vào một ngày mai tươi sáng hơn, rực rỡ hơn. Hy vọng như người con hoang đàng, hai người phụ nữ, một người bên giếng nước, một người trước tòa án, đã hy vọng những dĩ vãng những lỗi lầm của mình sẽ được quên đi, sẽ được xóa nhòa. Hy vọng như Phêrô đã từng hy vọng là mình sẽ được thứ tha. Thất vọng như Giuđa đã từng tuyệt vọng vào một ngày mai. Cành cây bên vệ đường là nơi người mất hy vọng tìm đến. Một sợi dây treo lên, một mạng người rớt xuống. Hy vọng như hai người môn đệ trên đường Emmau. Vào một buổi sáng mùa Xuân, có hai người quyết định rời bỏ thành phố Giêrusalem. Trên con đường bẩy dậm dẫn về ngôi làng nhỏ bé Emmau, có hai người mất hy vọng đang đi với nhau. Nhưng Niềm-Hy-Vọng đã tới với họ. Niềm-Hy-Vọng chuyện trò với họ. Và bởi Niềm-Hy-Vọng, họ quyết định quay về Giêrusalem, thành phố của mất hy vọng. Họ quay về để tạo dựng lại một niềm hy vọng mới. Bao nhiêu người chứng kiến cảnh tảng đá đang từ từ chôn lấp một xác chết.

Họ thất vọng. Họ cảm nghiệm đắng cay cho một mất mát. Nhưng rồi họ lại hy vọng, hy vọng vào một tương lai tươi sáng hơn. Cuối cùng đúng như họ mơ ước, Mùa Xuân, Mùa Hy Vọng đã tới gần hai ngàn năm.

Bây giờ không còn là một thời của mất hy vọng, của hy vọng xám đen, của hy vọng nhạt nhòe, của hy vọng khô cạn. Bây giờ đang là một thời để mà hy vọng, hy vọng ửng hồng, hy vọng sung mãn, hy vọng tràn đầy.

Nguyễn Trung Tây, SVD
 

 


trên đường emmau,
ảnh nguyễn trung tây

 

____________________________________________

chú thích

    [1] Tất cả những chữ in nghiêng nghiêng trong bài Mùa Xuân, Mùa Hy Vọng không thuộc về Kinh Thánh. Đây chỉ là sự tưởng tượng của tác giả.

[2] Xem chú thích 1.

[3] Adong trong tiếng Cổ Do Thái có nghĩa là đất.

[4] Một số thần học gia nói rằng cái chết ở đây có nghĩa là con người mất đi tính trường sinh bất tử. Bởi ăn trái cấm, từ trong bụi tro con người được tạo dựng, mai này con người cũng sẽ quay về bụi tro. Đây cũng là một trong những hình phạt con người bị Thiên Chúa tuyên án (Sáng Thế Ký 3:19).

[5] Trong văn hóa Do Thái, Thiên Chúa hay Giavê có nghĩa là Đấng Tự Hữu. Trong văn hóa Việt Nam, Thiên Chúa hay Ông Trời có nghĩa là Đấng Làm Chủ Bầu Trời.

[6] Giếng nước trong văn hóa Do Thái có một vị thế tương tự như quán nước đầu làng của người Việt Nam. Bên Việt Nam, nhất là những thôn làng ngoài Bắc, nếu muốn tìm kiếm hỏi thăm những người cư ngụ trong làng, người ta ghé vào quán nước đầu làng.

[7] Người hầu thân tín của Áp-ra-ham đã gặp người vợ tương lai của I-xa-ác, Rê-bê-ca tại giếng nước trong vùng A-ram Na-ha-ra-gim (Sáng Thế Ký 24:10-27). Gia-cóp đã gặp Ra-khen tại một giếng nước trong vùng Ha-ran (Sáng Thế Ký 29:1-14).

[8] Môi-sen đã đánh đuổi những người chăn chiên để giải cứu bẩy chị em của Zip-pô-ra, người vợ tương lai của Môi-sen tại một giếng nước đầu làng vùng Mi-di-an, Trung Đông (Xuất Hành 2:15-22).

[9] Dựa vào yếu tố địa dư cũng như phong tục của người miền Trung Đông, chúng ta có thể đoán ra được phần nào nguyên nhân dẫn đến hiện tượng hơi lạ lùng này, đó là, người phụ nữ hình như muốn tránh né, không muốn gặp gỡ những người dân trong làng tại giếng nước đầu làng.

[10] Có hai trường phái khác nhau giải thích câu nói, “Tôi không có chồng” (Gioan 4:17), của người phụ nữ và câu trả lời của Đức Giêsu, “Cô nói ‘Tôi không có chồng’ là rất phải, bởi cô đã có năm đời chồng, và người hiện giờ cô đang chung sống không phải chồng của cô. Cô nói đúng” (Gioan 4:17-18). Một trường phái cho rằng câu nói trả lời của Đức Giêsu gián tiếp thông báo cho độc giả Kinh Thánh biết về đời sống hôn nhân của người phụ nữ. Trường phái còn lại cho rằng năm người chồng trước đó tượng trưng cho năm vị thần người Sa-ma-ri-a thờ phượng (2 Các Vua 17:29-33), và người đàn ông hiện đang sống với cô ta chính là Giavê Thiên Chúa.
 

go top


trang chính |   lời giới thiệu  |   sống lời chúa  |   truyện ngắn |  liên lạc

copyright © 2004 nguyentrungtay