trang chính |   lời giới thiệu  |   sống lời chúa  |   truyện ngắn |  liên lạc


      

Nguyễn Trung Tây, SVD
cô dâu & công nhân đài loan: hiện tượng bùng nổ khi nào?


                


Trong phần phỏng vấn một người công nhân Việt Nam tại Đài Loan do trung tâm Vân Sơn thực hiện trong số chủ đề 36 Vân Sơn in Taiwan, người công nhân cho biết anh đã phải trả một số tiền 7000 đô cho visa nhập cảnh Đài Loan theo chương trình lao động xuất khẩu. Nếu đọc phóng sự đặc biệt Bên Ni Bên Nớ do tác giả thực hiện vào tháng 9 năm 2005, bạn đọc sẽ nhận ra số tiền để trả cho những công ty môi giới trước năm 2005 là khoảng 1500 đô la. Thật không thể ngờ, chỉ trong vòng hai năm, con số 1500 đã nhảy vọt, cộng vào thêm 5500 đô nữa!

Nếu phong trào công nhân Việt Nam tại Đài Loan còn tiếp tục, không biết vào năm 2009, người dân Việt sẽ phải trả thêm bao nhiêu ngàn đô la nữa để có được một tờ giấy visa đi làm công nhân bên xứ Đài?

Hiện tượng công nhân và cô dâu Việt Nam tiếp tục trở thành một nỗi đau cho người Việt Nam. Người bên trong Việt Nam vẫn không ý thức rõ thực trạng xã hội Đài Loan, cho nên tiếp tục liều lĩnh cầm nhà cầm đất để kiếm visa đi sang Đài Loan làm công nhân. Cứ thế, người này nối tiếp người kia tấp nập rời bỏ quê hương đặt chân lên phi trường Đài Bắc, khiến nỗi đau Việt Nam tiếp tục mưng mủ làm độc sưng tấy đỏ cả một khoảng thịt da Việt Nam. Nhưng hiện tượng công nhân và cô dâu Việt Nam thật sự ra đã bất đầu khi nào? Ai là những người đầu tiên đã đặt chân lên đất Đài Loan qua diện công nhân? Vào thời gian đầu tiên khi phong trào mới bùng nổ, khi công nhân Việt Nam gặp khó khăn, bị chủ nhân đối xử bất công, ngoài LM Hùng, ai là những người cũng đã góp những bàn tay nhằm xoa dịu những vết đau Việt Nam.   

 

I. LM Nguyễn Văn Hùng

Theo như LM Hùng, hiện tượng cô dâu Việt Nam bắt nguồn từ sau năm 1975, khi những người Hoa Kiều rời bỏ đất nước ra đi, sau đó cũng chính họ lại quay về Việt Nam lập gia đình với người Hoa, rồi trở thành trung gian mai mối cho những cô dâu Việt Nam sau này. Nhưng năm 2000 là năm quan trọng của hiện tượng cô dâu Việt Nam, bởi nó là cái mốc đánh dấu một giai đoạn khởi sắc để rồi cuối cùng bùng nổ biến thành phong trào mua bán vợ Việt Nam như những món hàng [1].

Riêng hiện tượng công nhân Việt Nam tại Đài Loan, theo như LM Hùng, khởi đi từ tháng 11 năm 99 với 21 người con gái Việt Nam đặt chân tới phi trường Đài Bắc với visa công nhân. Sau đợt 21 người công nhân này, hiện tượng người Việt Nam ghi tên tham gia chương trình xuất khẩu lao động tại Đài Loan dần dần bùng nổ, cuối cùng lan tràn với con số 100,000 công nhân [vào năm 2005] trên đảo Đài Loan. Từ con số 21 của năm 99 cho tới con số 100,000 của năm 2005, bạn đọc có thể nhận ra tỷ lệ nhảy vọt đến là chóng mặt của số lượng người Việt Nam nhập cảnh vào Đài Loan theo diện công nhân chỉ trong vòng hơn 5 năm trời. 

Tuy nhiên, cũng vẫn theo lời LM Hùng, trước tháng 11 năm 1999, cũng đã có các nhóm người Việt Nam (làm việc tại Việt Nam cho những chi nhánh của công ty mẹ tại Đài Loan) được gửi qua Đài Loan để học hỏi thêm về tay nghề với danh nghĩa Thực Tập Sinh. Nhưng trên thực tế, họ cũng không được học hỏi chi, nhưng bị bắt làm việc tăng ca (overtime) liên tục, có khi là 16 hoặc là 18 tiếng đồng hồ một ngày. Mỗi giờ họ được trả lương vào khoảng 50 cents tiền Úc năm 1999. Cuối cùng, những người công nhân bị bóc lột đã tìm cách liên lạc với nhiều linh mục Việt Nam tại Đài Loan nhờ các ngài can thiệp. Vào những năm đầu tiên của thập niên 2000, nhận thấy hiện tượng công nhân và cô dâu Việt Nam bị người bản xứ bóc lột và hành hạ ngày càng nổ tung đến mức báo động đỏ trên đất Đài Loan, LM Hùng cuối cùng quyết định thành lập Văn Phòng Trợ Giúp Pháp Lý chuyên giúp đỡ cho Công Nhân và Cô Dâu Việt Nam trên đất Đài vào năm 2004.

   

II. LM Nguyễn Mai Sơn

Theo như LM Nguyễn Mai Sơn, vào những năm 1994 và 1995, Công ty BOCHANG Towels có chi nhánh làm khăn tắm tại Hố Nai, đã gởi sang Đài Loan nhóm Thực Tập Sinh đầu tiên trong vòng 3 tháng và 6 tháng để học tu nghiệp. Nhưng trên thực tế, những Thực Tập Sinh này cũng không được học hỏi chi về tay nghề, mà họ còn bị bắt phải làm tăng ca rất nhiều giờ trong vòng một thời gian dài.

 


Tòa nhà nơi Thực Tập Sinh VN làm việc cho công ty
 Bochang sống năm 94 và 95, Ảnh NTT

 


LM Sơn trước cửa văn phòng Công ty Bochang Towels,
Ảnh NTT

 


Xưởng làm khăn tắm BOCHANG, Ảnh NTT

 

Bởi Công ty BOCHANG có chi nhánh tại Hố Nai, cho nên phần lớn những người thực tập sinh làm việc tại Đài Loan vào năm 94 và 95 là những người Công Giáo. Bị bắt buộc phải làm việc một ngày 16, 18 tiếng, một tuần 7 ngày, thực tập sinh người Công Giáo không tham dự được Thánh Lễ hằng ngày hoặc Thánh Lễ Chúa Nhật. Khi đó những người công nhân Việt Nam mới bắt đầu liên lạc với Linh Mục Nguyễn Văn Của của địa phận Gia Nghĩa, nhờ ngài giúp đỡ về phần thiêng liêng. Nhận được lời kêu gọi, LM Của liên lạc với những người công nhân Việt Nam đầu tiên tại tỉnh Gia Nghĩa, giúp đỡ họ về phần tinh thần. Một thời gian sau đó, lại có thêm LM Sơn và nhiều linh mục cũng như tu sĩ Việt Nam khác của địa phận Gia Nghĩa và những vùng phụ cận, tùy theo hoàn cảnh mục vụ, mỗi người một cách, cùng góp vào một bàn tay trong công tác mục vụ giúp đỡ công nhân và cô dâu Việt Nam tại miền Trung và miền Nam của Đài Loan.

 


LM Nguyễn Văn Của, địa phận Gia Nghĩa Đài Loan,
Ảnh NTT

Nguyễn Trung Tây, SVD


 
_____________________

chú thích

[1] Theo báo cáo của chính quyền Đài Loan, vào năm 2005, có 80,000 cô dâu và 100,000 công nhân Việt Nam trên đảo Đài Loan (LM Joseph Trương, Khóc thương cho những người con của Mẹ Việt Nam chết oan nghiệt tại Đài Loan).

                 


trang chính |   lời giới thiệu  |   sống lời chúa  |   truyện ngắn |  liên lạc

copyright © 2004 nguyentrungtay