trang chính |   lời giới thiệu  |   sống lời chúa  |   truyện ngắn |  liên lạc



                                      
những con chim
ẩn mình chờ chết
đỗ lam_______________

Tuy nhiên giữa hai người thì Meggie mới đúng là hiện thân của loài chim thorn bird chứ không phải là Ralph-trong khi nhiều người Việt mình hình như cứ có ấn tượng ngược lại (những người ngoại quốc mà tôi biết thì không) cho nên có người đã ân cần căn dặn tôi là, “Sau này đừng có ẩn mình chờ chết như ông cha Ralph đấy nhé”! Có lẽ vì cái từ đó nó vu vơ như tôi đã phân tích ở trên, và trong tâm tưởng của người ta màu áo chùng thâm đen của ông linh mục tự nó gợi lên một cái gì “ẩn khuất” và…dễ chết” chăng...

 

một khoảng thời gian
đã đi qua
một khoảng thời gian đã đi qua
một khoảng thời gian đã đi qua một một khoảng thời gian đã đi qua


__________________________

Những ngày tháng Ba ở Manila oi bức đến kinh người, và sau một tuần trên đất Phi, đến hôm đó, đa sốt trong nhóm chúng tôi từ Nhật qua, nếu chưa quỵ ngã vì một cơn bịnh thời khí nào thì cũng đã ngất ngư uể oải khá rõ rệt. Giữa một buổi chiều “đỏ lửa” như thế, thì sự có mặt của nàng đúng là một “cơn gió thu mây bay nhè nhẹ” như trong lời nhạc của Đức Huy đối với tôi, cho dù tôi cũng đã chẳng tìm được “một vần thơ” nào và dĩ nhiên không hề dám nghĩ “yêu em dài lâu”!

Nàng là con gái của một trong những người lo điều hợp chương trình exposure trip cho chúng tôi, và chắc hẳn do truyền thống nếp nhà nhiệt tâm với đạo, nàng đang theo ban Religious Education của một đại học Công Giáo. Mẹ nàng bảo với một vẻ hãnh diện, “Nó muốn làm một theologian”, còn nàng chỉ cười dịu dàng và nói là sau này muốn làm cô giáo ở trung học. Tôi nhanh chóng hưởng ứng, “That’s great! How wonderful!” cho dù thực ra tôi vẫn có chút ngần ngại có thể hơi thành kiến trong lòng là Thần học Công Giáo (ít ra cho đến nay) không phải là một bộ môn thân thiện (friendly) đối với phụ nữ đẹp! Nhưng rồi nữ tính mềm mại và giản dị của nàng đã làm tôi rất yên tâm. “Nàng không bị súng sính bởi học vấn cũng không cứng nhắc bởi đồ lót mình”, nếu tôi có thể mượn lối mô tả một nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp để áp dụng cho nàng. Chúng tôi đi một vòng quanh vài nơi trong thành phố, và ngoài những lời thuyết minh dư trên cương vị công dân của nước chủ nhà-nàng cũng đã tùy nghi trò chuyện lan man với tôi. Tạ ơn Trời (!) đám thần dân của Thiên Hoàng không tham gia được bao nhiêu vì vốn liếng tiếng Anh của quần chúng không đi xa hơn bao nhiêu những lời chào hỏi.

          Bộ phim Titanic đang là một big hit ở đây, và tape nhạc soundtrack của nó chào đón chúng tôi hầu như khắp nơi, từ trên chuyến xe jeepney (một loại phương tiện chuyên chở đặc trưng của xứ Phi) cho đến quán nước bên bến tàu mà chúng tôi ghé nghỉ mệt. Nàng hồn nhiên bộc lộ sự hâm mộ của mình với Leonardo de Caprio và tôi mau mắn phát biểu theo là mình cũng rất thích Kate Winslet, mặc dù trong thâm tâm tôi muốn nói, “Tôi thích dáng mảnh mai của em hơn cái đẹp mỡ màng của ả”! Nàng cũng bảo mấy đứa bạn của nàng đã đi coi đến mấy lần, còn nàng thì mới xem một lần thôi nhưng cũng muốn xem lại ít ra một lần nữa. Tôi lại tiếp lời là tôi cũng vậy tuy trong bụng thì nghĩ có điên mới bỏ ra 20 đô la để đi xem lần thứ hai trên đất Nhật. Nhưng khi nàng bảo cái favorite line của nàng trong phim là, “You jump, I jump” thì tôi đồng ý một cách rất thành thực (với một chút ngậm ngùi thoáng qua vì biết rằng đời mình chưa và sẽ không bao giờ có một tình huống lãng mạn như thế). Rồi tôi còn thành thực hơn thế nhiều khi trong câu chuyện, nàng như chợt nhớ ra và hỏi, “Did you see The Thorn-Birds?”-“Yes, I did. And not just one time”. “Wow, that means you like it, don’t you? Me too, I like it very much. I think it’s a great story.”

          Tôi không biết đây là lần thứ bao nhiêu có người hỏi mình đã đọc cuốn truyện hoặc xem bộ phim này chưa, kể từ thời còn ở Việt Nam cho đến lúc qua Mỹ sang đến tận gần đây ở Nhật. Có lẽ phải đến vài chục người, trong đó có người nước khác cũng có nhưng đa số vẫn là con cháu vua Hùng, phụ nữ nhiều hơn nam nhi, có nhiều người không phải là Công Giáo nhưng đều biết tôi muốn làm…”ông cố đạo”! Bây giờ nghe nhắc tới nó, tôi vẫn có một cảm giác lẫn lộn khi nhớ lại vài kỷ niệm vui vui về cung cách hay thái độ đi kèm với những câu hỏi hay lời bình luận vủa nhiều người khác về câu chuyện. Từ nụ cười tinh quái trong khóe mắt có đuôi của một cô gái mà nhan sắc đã làm tôi mặt đần ra nhưng trái tim thì nhảy Samba trong ngực, cho đến cái cau mày nghiêm khắc của một vị tu sĩ kia mà vẻ trịnh trọng làm tôi sợ hãi đến mức tiêu hóa bị đảo lộn cả một ngày.

          Cuốn tiểu thuyết nguyên bản của nhà văn Úc, Colleen Mc Cullough cũng như bộ phim truyền hình dựa theo đó có tên là The Thorn Birds, nhưng ở Việt Nam mọi người thường biết đến nó dưới cái tên Những Con Chim Ẩn Mình Chờ Chết vì đó là cái tựa của bản truyện dịch đầu tiên sang tiếng Việt của Trung Dũng ở Sài Gòn vài khoảng năm 1987. Ông ta đã dịch theo bản tiếng Pháp Les Oiseabex Qui Se Cachent Pour Mourir. Cuốn sách bán rất chạy, và qua một năm sau thì một nhà xuất bản ở Hà Nội lại cho ra lò một bản dịch từ tiếng Nga gọi là Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai. Đến năm 85, nếu tôi nhớ không sai, thì Đài Truyền hình Thành phố chiếu bộ phim này đến hai lần chứ không phải một, và vì TiVi chỉ có một đài nhà nước mà thôi nên nhà nhà đều coi, người người đều coi-thế là cả thành phố ai cũng biết “cha Ralph và Meggie” cả.

          Cái tựa Những Con Chim Ẩn Mình Chờ Chết thực ra là một cái tựa dịch ẩu từ tiếng Tây, vì se cachent pour mourir đúng nghĩa ở đây phải là “vùi mình để chết”. Nó nói về hành động của loài chim huyền thoại chỉ cất tiếng hót một lần khi đồng thời từ từ vùi chính trái tim của mình đâm vào gai nhọn của hoa hồng-gai đâm càng sâu thì tiếng hót càng hay, cho đến khi tim ngừng đập và chim gục chết. Chim chủ động đi vào cõi chết để hiến dâng tiếng hát, chứ không “ẩn mình” vô một xó xỉnh nào mà cũng không “chờ chết” vì chờ là một trạng thái thụ động. Loài chim huyền thoại này tiếng Anh gọi là thorn bird, và dĩ nhiên Colleen Mc Cullough dùng nó như một biểu tượng của tình yêu. Tuy nhiên cụm từ “những con chim ẩn mình chờ chết” có lẽ gợi lên một ấn tượng mơ hồ, mông lung hơn về ý nghĩa và chính vì vậy, dường như có phần du dương êm tai, ít “bạo động” đối với người nghe hơn là cụm “Những con chim vùi mình để chết”? Tôi nghĩ người dịch rất khôn khi dịch như vậy, chứ không phải là ông ta kém tiếng Tây nên dịch sai. Và người đọc sách hay xem phim đều thích cái tựa dịch này, chứ nếu bây giờ mà dịch sát tiếng Anh ra là Con Chim Gai thì chắc mọi người nghe cũng sẽ thấy…”gai gai” thế nào ấy! Có một anh bạn rất rành về ngôn ngữ học có lần bảo tôi là người Việt mình dễ bị lừa bởi cái “vỏ ngữ âm” cho nên rất nhiều lời nhạc và thơ nghe ê a nhưng ý tứ rất tầm phào.

          Không biết có phải một phần nào người ta bị cái tựa “ẩn mình chờ chết” đánh lừa hay chăng, nhưng thực tế tôi có thấy không ít người hiểu lầm câu chuyện này. Không nói đến những trường hợp cực đoan như một thầy kia đã phán với tôi, “Chúng nó phỉ báng sự đạo. Chả còn luân lý gì nữa” (!) hay một Linh mục giáo sư nọ có hai bằng Tiến sĩ của thế kỷ hai mươi nhưng lại quả quyết một cách rất là “thế kỷ mười chính” là, “Ối giào! Nó là chuyện của Tin Lành viết ra để chế diễu cái ơn gọi độc thân Linh mục của Công Giáo mình ấy mà. Có xem để nghiên cứu thì phải nhớ như vậy mới được” (!)-ngay nhiều người có thiện cảm với câu chuyện cũng có vẻ bị trật chìa.

          Ngay bây giờ không có một bản truyện trong tay và lần cuối xem bộ phim đó đến nay cũng đã mấy năm rồi nên hiện tại cũng đã quên gần hết tên của các nhân vật trong đó. Tuy nhiên tôi vẫn nhớ đó là một truyện trường thiên (saga) trải dài hơn 40 năm, từ những năm năm 1910 đến cuối những năm 50 gì đó với rất nhiều nhân vật và tình tiết. Nó bắt đầu tại một trang trại lớn ở Úc của một bà quý tộc già và đơn độc. Làm công cho bà có một gia đình, ngoài mấy cậu con trai còn có Meggie là cô con gái út. Gia đình này là một disfunctional family nói theo từ ngữ tâm lý xã hội học bây giờ. Bà mẹ hình như cũng xuất thân khuê cách, nhưng thời con gái do một lần lầm lỡ mà phải “đeo ba lô ngược”. Để cứu vãn thể diện gia đình, bà lên xe hoa với ông bố của Meggie là một người tốt lành nhưng thuộc giới lao động bình dân và cục mịch. Giống như một cặp “đũa vênh”, cuộc sống gia đình có nhiều nhẫn nhục hơn là hạnh phúc-đặc biệt quan hệ giữa ông và đứa con riêng của bà không tránh được những căng thẳng. Đến một ngày sự cố xảy ra, và đứa con riêng phải bỏ nhà ra đi. Ralph de Bricassart là một vị linh mục trong vùng mà nhiều người nhận xét là có “quá nhiều ưu điểm”-trẻ tuổi, đẹp trai, tài cao, và một chốn khỉ ho cò gáy như vậy không phải là nơi dụng võ thích hợp. Qua những chuyến “viếng thăm mục vụ”, giữa ngài và cô bé Meggie phát triển một mối quan hệ thân tình đặc biệt. Lạc lõng trong bầu không khí lắm vấn đề của gia đình, Meggie nhìn nơi ông như vừa là một khuôn mặt người cha vừa là một người anh mà em hoàn toàn tin cậy. Bà quý tộc già say mê Ralph nhưng biết mình “sắc bất tòng tâm” không có sức hấp dẫn để đánh gục được “chàng”. Khi cô bé Meggie lớn dần lên thành một thiếu nữ thì con mắt cú vọ sành đời của bà lão tuy gần đất xa trời vẫn cảm nhận được chuyện gì sẽ xảy ra. Bà làm di chúc để lại tài sản đồ sộ của mình cho Giáo hội Công Giáo với điều kiện Giáo hội phải để Ralph làm người quản lý tài sản đó. Bà biết rằng Giáo hội không từ chối một khoảng tiền lớn lao như vậy, và với điều kiện bà đưa ra, cha Ralph sẽ đương nhiên thăng tiến lên một vị trí khác. Như thế Ralph phải rời bỏ vùng quê này và không còn ở gần Meggie. Đúng như bà dự đoán, ít lâu sau khi bà qua đời, sự nghiệp của Ralph lên như diều gặp gió, và đến cuối bộ truyện ông đã là một Hồng Y tại giáo triều Rôma. Bà cũng không sai khi thấy trước cái tình thân giữa Ralph và Meggie sẽ triển nở thành một mối tình nam nữ trọn vẹn với tất cả những cuốn hút của nó. Nhưng có lẽ chính bà cũng không ngờ là tình yêu nơi phía Meggie lại mạnh mẽ đến mức vượt qua mọi khoảng không gian và thời gian mà bà tưởng đã tạo ra được giữa hai người.

          Sau khi Ralph đã ra đi, thoạt đầu Meggie cũng cố gắng và tưởng mình sẽ quên được ông khi chấp nhận cuộc sống hôn nhân với Luke-nhưng Luke đã chỉ làm nàng thất vọng và nàng hiểu ra mình chỉ có một mối tình dành cho Ralph mà thôi. Họ có cơ hội gặp lại nhau… Meggie mang thai và cho chào đời một đứa con trai tên là Dan nhưng dấu không cho cha Ralph biết nó là con của ông. Nàng nhìn đứa bé như một thắng lợi của mình vì đã “giành được từ trong tay Chúa một chút gì đó của Ralph”. Nhưng rồi khi Dan lớn lên, chả biết có phải là do “gien” của ông bố thực không, mà lại nhất quyết đòi đi tu làm linh mục. Meggie đau đớn nhận ra rằng “không thể nào thắng Chúa được, Chúa là một người đàn ông”! Dan đi Rôma học dưới sự bảo trợ của Đức cha Ralph-ông dành cho chàng sự nâng đỡ ưu ái như cho “đứa con của người tình cũ”. Không ai ngờ chỉ một thời gian ngắn sau khi chịu chức Linh mục, trong một chuyến đi nghỉ mát ở biển, Dan chết đuối vì cố cứu một cô gái tắm biển bị sóng cuốn. Sau đám tang của Dan, Meggie mới thổ lộ cho Ralph biết đó chính là con ruột của ngài! “Trái tim đã già” bị tràn ngập bởi đau buồn và hối hận đã làm cho Đức Hồng Y suy sụp hẳn. Chẳng bao lâu sau ngài cũng từ giã cõi đời, bên vòng tay yêu thương và tha thứ của Meggie.

          Song song bên những diễn biến của mối tình giữa hai nhân vật chính, còn có nhiều câu chuyện khác về những gì xảy ra với bố mẹ và các anh của Meggie, về Luke, về đứa con gái Meggie có với Luke tức chị của Dan-cũng như về sự nghiệp của Ralph như một nhà ngoại giao của Vatican trong bối cảnh chính trị phức tạp xung quanh thời Thế Chiến thứ Hai. Tất cả đều được “xử lý” một cách rất hấp dẫn bởi tác giả Colleen Mc Cullough, người mà tôi nghĩ ngoài bút pháp thâm hậu còn tỏ ra tầm hiểu biết tinh tế trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt về những tâm lý uẩn khúc của con người. Nhưng dù sao đi nữa thì tình yêu Ralph và Meggie cũng là mạch truyện chính, và cả độc giả của cuốn sách lẫn người xem bộ phim phần lớn chắc chỉ nhớ nhiều về hai người này.

          Tuy nhiên giữa hai người thì Meggie mới đúng là hiện thân của loài chim thorn bird chứ không phải là Ralph-trong khi nhiều người Việt mình hình như cứ có ấn tượng ngược lại (những người ngoại quốc mà tôi biết thì không) cho nên có người đã ân cần căn dặn tôi là, “Sau này đừng có ẩn mình chờ chết như ông cha Ralph đấy nhé”! Có lẽ vì cái từ đó nó vu vơ như tôi đã phân tích ở trên, và trong tâm tưởng của người ta màu áo chùng thâm đen của ông linh mục tự nó gợi lên một cái gì “ẩn khuất” và…”dễ chết” chăng? Một sự ngộ nhận khác còn to lớn hơn nhiều là không ít người cho rằng vì đây là một câu chuyện tình (và là một chuyện tình “đến nơi đến chốn” chứ không phải là một thứ tình “duy nhất”, platonic vớ vẩn giữa hai người trong trắng như thiên thần!) giữa một giáo sĩ và một người đàn bà-một điều mà dĩ nhiên Giáo hội không bao giờ muốn xảy ra-nó là một tác phẩm nói xấu tôn giáo hay là chống Giáo hội. Và vì “văn tức là người” nên tác giả giả ắt cũng phải là một thứ “quân vô đạo”! Nhưng theo tôi thì Colleen Mc Cullough (như đa số người Úc trắng khác có lẽ là một Kitô hữu nào đó, Công Giáo hoặc Tin Lành) cho dù trong cuộc đời thực của bà có là người “không giữ đạo” (non-practicing), có cynical đối với Giáo hội hay thậm chí nếu có nhận mình là người “vô thần” đi nữa (tôi không rõ tiểu sử và lý lịch của bà) thì tác phẩm cũng phải nói là rất có tinh thần Kitô giáo.

          Tôi có cảm tưởng là đối với một số người, ý niệm về văn học tôn giáo chỉ dừng lại đâu đó với những câu chuyện loại Hạnh Các Thánh (Hagiography) hay tương tự như vậy. Loại truyện này dĩ nhiên có giá trị không nhỏ nhưng chức năng (function) chính của nó là để nhằm cổ võ lòng đạo đức hay sùng mộ (piety & devotion) của giáo dân. Vì thế nó dễ sa vào một lối mô tả có phần công thức (formulaic) hay giản lược hóa (reductionist), tách biệt trắng đen trong cuộc đời một cách rất rặt ròi. (Đại khái thì các thánh có hai loại-một là các vị thánh thiện từ nhỏ, cả cuộc đời trắng như tấm áo rửa tội; hai là các vị có một thời bê bối tội lỗi nhưng sau khi hoán cải thì trăm sự không chê vào đâu được, cứ y như cuộc đời họ tách đôi thành hai mảng một trắng một đen chứ không nhập nhằng gì hết!). Tôi ngờ rằng chính giòng văn học thánh thiện này vô hình trung chính là tổ phụ cho loại văn học “hiện thực xã hội chủ nghĩa” của Cộng sản (mà Nguyễn Minh Châu gọi là “văn học minh họa”, hay Hoàng Ngọc Hiển gọi là “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”) mà ai cũng biết là không “thực” một tí nào cả! Ở đấy, thay vào chỗ của các thánh là các anh hùng chiến đấu hay lao động, Bác thay cho Chúa, Đảng thay cho Giáo Hội, và ranh giới địch-ta bao giờ cũng rất rõ ràng!

          Khổ một nổi là cuộc đời nó không đơn sơ như thế, nhưng phức tạp vô cùng. Hạnh Các Thánh mấy ai khi lớn còn muốn đọc vì nó boring quá, và sở dĩ nó boring là vì người ta không nhìn thấy mình trong đó. Chính người lớn không thích đọc, nhưng lại thích bắt con nít đọc. “Để giáo dục chúng nó”. Ý thật tốt lành!!! Thật ra thì tại các nước Kitô giáo truyền thống, người ta đã cố gắng vượt qua tình trạng này, những sách viết về đời các vị thánh gần đây đã cố gắng phản ứng những nét phức tạp rất thường có trong cuộc hành trình của các ngài một cách chân thực hơn dựa trên các dữ kiện được tìm hiểu nghiêm chỉnh hơn dưới các mặt tâm lý, xã hội, văn hóa, v.v… Nhưng người Việt Nam vẫn chưa quen lắm với lối tiếp cận mới này, có thể vì ngoài truyền thống Công Giáo ra chúng ta còn thừa hưởng thêm cái nguyên lý “văn dĩ tải đạo” của cụ Đồ Chiểu nữa! Tuy nhiên, “tải đạo” cũng có ba bày đường chứ không thô sơ như “xe tải củi”, và truyện thơ Kim Vân Kiều của Nguyễn Du về đời một cô gái giang hồ còn tải đạo tài tình hơn cái truyện Vân Tiên Nguyệt Nga của “ông già Ba Tri” nhiều.

          Trở lại với câu chuyện Thorn Bird, thì thái độ “tranh giành với Chúa” của Meggie là ma quỷ tội lỗi ư? Tại sao lại phải nghĩ như thế nếu chúng ta nhớ lại sách Khởi Nguyên 32:24-32-Tổ phụ Jacob trải qua với Chúa một trận đánh vật thâu đêm ác liệt, cho đến sáng bị Chúa đá cho một cái trẹo hông ông vẫn bám chặt không tha và đòi Chúa phải chúc lành cho mình! Mà kính thưa quý vị thông minh, cái “chúc lành” thời ấy nó sát mặt đất lắm. Trong tiếng Hebrew, động từ barak (=to bless) danh từ beraka (=blessing) bắt nguồn từ chữ căn brk ý chỉ “the vital force of the sexual organs” (Ai muốn kiểm chứng, xin xem Dictionary of Biblical Theology, ed. by Xavier Léon-Dufour, đã có bản tiếng Việt Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh rồi). Với Jacob, cùng lắm nó chỉ gợi lên ý tưởng con đàn cháu đống và lắm của cải súc vật thôi. Meggie còn cool hơn nhiều bà “đấu tranh” cả một đời vì tình yêu dành cho một con người cụ thể!

          Meggie còn làm cho tôi nhớ đến một khuôn mặt Kinh Thánh nữa là ông Job. Job là một người giàu có, sung sướng và tín thác nơi Thiên Chúa. Satan thách thức Chúa để cho y giáng đại họa xuống trên ông thử xem khi trắng tay cùng khốn và bệnh hoạn ông có còn tin tưởng nơi Ngài không. Cuối cùng Job vẫn bám lấy niềm tin nơi Chúa tuy vẫn kêu gào mình vô tội, không làm gì đáng tội để chịu lấy bấy nhiêu khổ đau như một hình phạt. Kết quả Chúa khẳng định ông là người công chính, phục hồi sự lành mạnh, con cái và của cải dư đầy cho ông-nhưng câu hỏi nhức nhối về sự đau khổ vô tội (innocent sufferings) thì thực sự mà nói vẫn mở ngõ không có câu trả lời. Job khi mất hết mọi sự vẫn quyết giữ lấy niềm tin, còn Meggie thì chính Ralph gần cuối đời có nói với nàng, “Dù mất hết mọi sự, em đã không bao giờ để mất tình yêu”. Job không mất niềm tin, nhưng có phi bác luận cứ tôn giáo truyền thống về sự thưởng phạt của Chúa với các bạn của ông, và qua đó gợi lên một tầm nhìn mới về tác động của Chúa trong đời sống của con người. Meggie chỉ vì tình yêu của mình đã rơi vào một tình thế mà dường như Chúa cũng chống lại nàng. Và con người nàng yêu thì gây cho nàng biết bao buồn đau, cay đắng-không phải vì tình yêu của ông ta đối với Chúa quá lớn lao, tình yêu đó dĩ nhiên là cũng có nhưng cán cân chỉ nghiêng lệch hẳn đi vì có tham vọng cá nhân chất thêm vào. Ralph là con người có nhiều tham vọng riêng tư và như tác giả Colleen Mc Cullough diễn tả trong truyện thì đó mới chính là điều đáng phàn nàn nơi ông chứ không phải sự thể ông đã là giáo sĩ mà vẫn có chỗ trong tim dành cho một người đàn bà. Cuộc tình của Ralph và Meggie là một chuyện tình rất đẹp, tuy là một cái đẹp bi kịch (tragic beauty), bởi vì tình yêu về phía Meggie quá tuyệt vời. Tình yêu không chỉ làm cho Meggie “chết trong lòng một tí” kiểu Xuân Diệu nhưng là chết rất nhiều, hay nói cho có về thần học một chút thì nàng đã “sống mầu nhiệm sự chết” một cách sâu xa trong cuộc đời. Giống như loài chim thorn bird cất tiếng hót mà đi vào cõi chết khi gai nhọn thấu qua tim.

          Tôi tin là nếu nhìn vào câu chuyện với tâm thế cởi mở không thành kiến, ta sẽ thấy nó có thể giúp ta xét lại cái nhìn của mình về mối liên hệ giữa Chúa và con người-cũng như câu chuyện ông Job đã đặt lại vấn đề sự tương quan giữa những thăng trầm lên voi xuống chó của đời người với hành động của Thiên Chúa.

          Biểu tượng con chim thorn bird chính thức có thể xem như một hình bóng khác của cây Thập Giá, vì Thập Giá cũng không là gì khác hơn “chết vì yêu”. Và Phúc Âm là câu chuyện về một Thiên Chúa quyết liệt chọn yêu thương con người cho đến cùng. Cho dù đó là một con đường chỉ đưa Ngài tới chỗ bị đóng đinh lên thập tự! Dĩ nhiên tình yêu của Chúa Giêsu thì cao vời hơn tình yêu của Meggie, nhưng một khi sự hiện diện của Thiên Chúa có thể nhận ra qua một cơn gió thoảng tầm thường (như trong truyện tiên tri Eliah) thì cũng không có gì là phạm thượng khi bảo rằng tình yêu của Chúa cũng có thể được nhìn thấy phản ảnh trong tình yêu của một người đàn bà.

          “Nhưng cái thứ tình đó là tội lỗi!”, hẳn nhiều người sẽ phản ứng ngay, giống như tôi nói năng bá láp hay điên rồ (nếu không phải một thứ gì đó nặng nề hơn nữa!). Tôi tầm xàm, tối láo lếu thì tôi sẽ phải trả lẽ trước mặt Đức Chúa Trời. But anyway. I want to make a point here that “Love is never sinful, only abuse is”.

          Tình yêu giữa Ralph và Meggie hẳn nhiên không tinh tuyền như bông huệ, có những abuses hiện diện ở trong đó. Nhưng ngay những điểm abuses ấy, nếu chúng ta chỉ phán xét chúng theo một khuôn suy luận thô thiển “vi phạm lề luật là đồng nghĩa với xấu sa tự bản chất” là chúng ta đã miss the point. Ông Jacob dối bố lừa anh rồi vẫn được xem là một Tổ phụ của chúng ta trong lòng tin. Hơn nữa với cái nhìn thần học luân lý bây giờ thì tội hệ tại chỗ cắt đứt hay làm sứt mẻ những mối tương quan (relationships) hơn là ở chỗ vi phạm một khoản lề luật. Sự kiện Ralph có quan hệ tính dục với Meggie là một abuse, nhưng khi hoa quả nảy sinh từ hai người lại là một linh mục thánh thiện tốt lành như Dan thì không cách chi có thể coi tình yêu của hai người là một cái gì “bị chúc dữ=God-damned” được cả! Và tôi tin rằng tội lỗi của Ralph đã được tha thứ bởi Chúa dù trong truyện không thấy kể ông có lãnh Bí tích Giải tội hay không lúc cuối đời, bởi vì Meggie đã tha thứ cho ông-nếu Chúa không tha thứ trước thì con người cũng không có sức để tha thứ cho nhau được! Error is human, forgiveness is divine.

          Những suy nghĩ của tôi ở trên về Những Con Chim Ẩn Mình Chờ Chết, tôi không mong là sẽ được mọi người đồng ý nhưng tôi muốn trình bày chúng ra trên mặt giấy chính là để gợi ý thảo luận thêm với anh chị em feel interested in doing so. Vì dường như giữa người Việt Công Giáo với nhau-ngay cả trong giới linh mục tu sĩ-vẫn còn rất hiếm hoi những thảo luận nghiêm chỉnh thẳng thắn và cởi mở về những vấn đề như tình yêu và tính dục trong đời tu, đâu là ý nghĩa thực sự của đời độc thân, mối liên hệ giữa đời độc thân và chức vị linh mục, v.v… Những vấn đề đó Âu Mỹ họ bàn cãi cũng đã nhiều, còn bà con ta thì vừa thích làm như không có vấn đề lại vừa khoái nghe tin đồn giật gân!!! Có lẽ cái não trạng Jansénism du nhập từ mấy ông cố Tây kết hợp với truyền thống Hủ Nho đã làm cái nhìn của chúng ta về tính dục bị hung up cho đến tận bây giờ. Buồn cười nhất là có nhiều người lại cứ vin vào đó mà tự cho ta là tốt lành hơn thiên hạ. Tôi nhớ mãi một bậc trung niên kia trong cộng đoàn ở Chicago, trong một lần ngồi chung với mấy anh em tu sĩ chúng tôi, mạnh miệng đả kích mấy ông cha Mỹ muốn đặt lại vấn đề celibacy nên là mandatory hay là optional như là những kẻ “tu không ra tu” không đáng một xu teng respect nào cả. Ngài lại tỏ vẻ lo lắng là anh em chúng tôi, người Việt đi tu tại Mỹ, sẽ bị ảnh hưởng bởi bọn “xấu” ấy-chứ bên nhà thì không có như vậy!!! Khi tôi nói với Ngài là “Bên Việt Nam mình vậy chứ nhiều ông cha cũng có bồ đấy, anh không biết sao?”. Ngài không chút ngập ngừng bảo ngay, “Nhưng mà phải giữ cho kín đáo!”. Tôi thấy…chán quá, và tự nhủ lòng rằng từ nay về sau chớ có dại mà bàn luận với ngài ấy chuyện gì nữa. Một ông cha có lăng nhăng nhưng “biết chùi mép kỹ sau khi ăn vụng” thì vẫn chấp nhận được, nhưng còn ông khác cho dù đời sống vẫn đứng đắn nhưng nếu mở miệng đặt vấn đề là đáng bị kick butt-đó có thể là một thứ logic làm hài lòng Đức Chúa Trời ư??? Please give me a break!

go top

 

trang chính |   lời giới thiệu  |   sống lời chúa  |   truyện ngắn |  liên lạc

copyright © 2004 nguyentrungtay