trang chính |   lời giới thiệu  |   sống lời chúa  |   truyện ngắn |  liên lạc


 

Nguyễn Trung Tây, SVD
chuyện ông tư dì tư
chữ tài chữ tâm

Con người không phải chỉ là danh phận,
hoặc là kiến thức,
hoặc là rổn rảng rộn ràng
tiếng tây tiếng u...

                  
     

                                    ____________________________

 

Đi họp với Hội Cao Niên về tới nhà, dì Tư có vẻ không vui. Mặt dì chầm bầm như bọ hung, chân tay tuồng như bứt rứt đứng ngồi không yên. Dì đi tới đi lui vòng vòng xoay vần như con vụ trong căn nhà. Thoạt tiên dì đi từ nhà bếp lên phòng khách, rồi từ phòng khách đi ra ngoài sân, rồi từ sân nhà lại đi giáp một vòng vào lại trong nhà bếp… Thấy vợ như vậy, ông Tư cất giọng ướm hỏi,

— Bà hôm nay làm sao lại cập rập đi tới đi lui như vậy?

Dì Tư nhìn chồng, nửa như muốn nói, nửa như không. Biết tính khí của vợ, ông Tư dừng chung trà ngang miệng,

— Bà có chuyện chi muốn nói phải không?

Nghe chồng mở lời, dì Tư đứng lại giọng ngập ngừng,

— Ông thiệt là người tinh ý, bởi tui là có điều muốn nói. Nhưng vẫn không biết phải nói ra sao, nói như thế nào?

Ông Tư nhìn vợ, ánh mắt dò hỏi,

— Bà hôm nay hơi lạ đó nghen. Có chuyện chi thì cứ nói. Sao lại rào trước đón sau cẩn thận như vậy? Vợ chồng đầu ấp tay gối bao nhiêu năm nay, sanh ra mấy mặt con rồi, cháu chắt có đứa lớn cao trội như cây sào cắt cau, sao khi không tự nhiên lại mần tuồng y như là khách lạ đối với tui vậy?

Dì Tư chép miệng,

— Thì ai lại không biết là vợ chồng mình mấy chục năm rồi thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn. Nhưng tui không muốn hấp tấp không đầu không đuôi, người ngoài nghe được, người ta cười tui. Mà cười tui thì cũng không sao, nhưng người ta cười đụng chạm tới ông, thì thiệt lòng là tui không chịu. Dầu sao đi nữa ông cũng là người có ăn có học, chữ nghĩa một bụng, vừa có danh lại vừa có phận…

Mà nghĩ cho cùng, dì Tư cũng có cái lý của dì Tư, bởi thời đó, cái thời dì còn đang là một thiếu nữ tuổi mười tám, thì ông Tư thuả đó đang là thanh niên tây học từ thành phố ghé về quê nghỉ hè. Cô Thoan khi đó đã nghe tiếng của cậu Tư, con trai độc nhất của ông Hội Đồng Hương trong thôn làng từ lâu lắm rồi. Thiếu nữ trong xóm, ai mà lại không mơ ước được nâng khăn sửa túi cho cậu Tư Cường, con của một người vừa là điền chủ lại vừa là ông chủ buôn bán xe hơi trên Sài Gòn. Thoảng đôi ba lần, cô Thoan có nhìn thấy cậu Tư đi ngang qua cửa nhà; dáng cậu Tư cao, tóc chải keo láng o, vuốt ngược lên trên vầng trán, đôi lông mày thanh tú với hàm răng trắng đều điểm hai cái răng bịt vàng chóe sáng ngơ ngẩn tâm hồn bao nhiêu cô gái trong làng khi cậu Tư nở một nụ cười. Biết phận mình, cô Thoan không nghĩ tới chuyện hồn bướm mơ tiên, guốc mộc mà so với hài cườm. Nhưng, ngày hôm đó, một buổi chiều nóng bức, cô Thoan vừa tắm xong, mái tóc dài còn ướt sũng những nước. Phần nóng bức, phần tóc ướt, cô Thoan quyết định bước ra ngoài hiên nhà, đứng ẩn mình sau bụi tre hong khô mái tóc. Trời chiều, gió mát từ ruộng lúa kéo về thổi bay tung tóe mái tóc thơm mùi bồ kết với lá chanh của cô Thoan. Cô Thoan nhìn xa xa lơ đãng tìm kiếm bóng dáng của song thân trên cánh đồng cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi của ông Hội Đồng Hương. Thiệt là bất ngờ, không ai dự liệu, chẳng ai tiên đoán, cậu Tư xuất hiện ngay trên con đường làng. Nhận ra bóng dáng của con ông chủ điền đang bước tới, cô Thoan muốn lánh mặt vào trong nhà. Nhưng đã quá trễ, bởi cậu Tư Cường đã bước tới ngay phía trước sân nhà của cô. Cô Thoan đành chịu, cố gắng dấu mình nấp sau bên những nhánh tre xanh. Đang bước tới những bước chân đều đặn, bất ngờ cậu Tư quay ngang nhìn, ánh mắt chiếu thẳng vào bụi tre um tùm rậm rạp nơi có cô Thoan đang ẩn nấp. Bốn cặp mắt đụng nhau. Cô Thoan e lệ cúi xuống nhìn nền đất đen, một tay bám vào cành tre khẳng khiu. Nhận ra cô con gái đang bẽn lẽn đứng dấu mình bên bụi tre, tới phiên cậu Tư Cường tự nhiên trở nên bất động y như một pho tượng gỗ. Cậu lặng im, không động đậy, cặp mắt đăm đăm nhìn vào một khoảng không gian nơi có cô Thoan. Trước tình huống bất ngờ, cô Thoan lặng người trong vòng một giây, rồi cắm đầu bỏ chạy thẳng vào trong nhà. Chân cô chạy líu ríu vướng víu cuống quýt đan vào nhau. Chỉ là một sân đất trơ dài khoảng năm thước, mà sao cô Thoan thấy đất gò chông chênh xa diệu vợi. Nhưng rồi cũng tới cánh cửa, cô đưa hai tay hấp tấp cài lại then cửa. Vội vã đi xuống nhà bếp, cô Thoan mở vung nồi cơm đã chín, rồi ngớ ngẩn đóng nắp nồi cơm lại. Cô đi chầm chậm lên nhà trên, hai tay ôm má, len lén nhìn qua khung cửa sổ. Ngoài đường, cậu Tư vẫn đang tiếp tục ngớ ngẩn như người mất hồn nhìn vào bụi tre. Cô Thoan hồi hộp, tay ôm ngực, rón rén đi về lại nhà bếp. Ngồi xuống trước bếp lửa chỉ còn trơ lại tro than âm ỉ cháy, cô nghe được tiếng tim đập thình thịch và hơi thở của chính mình vang dội trong một khoảng không gian tĩnh mịch của gian nhà bếp.

Một tháng sau, đám cưới con trai của ông Hội Đồng Hương tưng bừng pháo đỏ với cô dâu Thoan e ấp bước lên xe hơi về nhà chồng mãi trên Sài Gòn. Hồi đó, có nhiều tiếng đồn nói là cô Thoan lên núi Tà Lơn mua bùa yêu bỏ vào cháo lú cho cậu Tư ăn, chứ ở đâu mà lại tự nhiên lòi ra cái tuồng đỉa bám dính ngay chân hạc. Nghe tiếng đồn, cô Thoan không buồn phiền, không giận hờn, nhưng hồi hộp nhớ lại cuộc tương ngộ bất ngờ bên bụi tre. Cô Thoan vẫn không hiểu lý do tại sao cậu Tư lại lậm tình, lại si mê một cô thôn nữ không danh phận, không học thức như mình. Nhưng cô Thoan chưa bao giờ hỏi, mà cậu Tư Cường cũng chưa bao giờ nói với vợ chuyện này.

Thấy ông Tư yên lặng, dáng vẻ chờ đợi, dì Tư đưa vào miệng miếng trầu cay, chậm rãi nói,

— Chiện là như thế này. Ông cũng biết là gia đình tui không phải là gia đình có chức tước, có địa vị, có của ăn của để ở trong làng. Tía má tui cũng chỉ ngày ngày cày thuê cấy mướn cho người trong thôn. Cho nên, tui không có học hành, chữ nghĩa chưa đong đầy bằng cái lá bình bát. Thiệt tình mà nói, nhiều khi tui cũng muốn được như ông, học hành cho nở mặt rỡ ràng với bà con thiên hạ lối xóm. Tiếng tây tiếng ta cũng ăn nói rổn rảng rộn ràng như ông vậy. Như thế, có đi ra ngoài cũng không thua chị kém em. Nhưng cái số của tui là số con nhà nghèo, học hành chữ nghĩa chẳng được bao nhiêu.

Dì Tư giọng điệu phân bua,

— Ông còn lạ chi. Vợ chồng mình ở Mỹ bao nhiêu năm rồi. Mà tên của mấy cái tiểu bang tui nói còn chưa thông. Cái tiểu bang chi đó…

Dì Tư dừng lại, chép miệng,

— Cái tên chi mà tui cứ đọc sai hoài? Ông sửa bao nhiêu lần rồi mà đầu óc tui nó cứ xụi lơ cứng đơ, nhớ trước quên sau. Cái chi mà in tuồng như là…là… tiểu bang “Cô ló đầu ra”! Đúng không ông?

Ông Tư nhìn vợ, cười,

— Tiểu bang Colorado.

Dì Tư gật đầu,

— Đó, đó, cái tên của người ta là Colorado, mà tui cứ đọc sai hoài, sửa tới sửa lui mà vẫn không được. Rồi thêm cái tiểu bang chi, mà tui cứ quen miệng đọc trợt ra là tiểu bang “Mỹ nó sợ ta”. Thiệt tình! Tui thấy có cái chi không ổn trong cái tên này. Mình đang ở bên Mỹ, nếu phải nói là sợ, thì mình sợ Mỹ, chứ ở đâu lại lòi ra cái vụ diều hâu trên trời mà sợ gà con đi lẹt đẹt dưới mặt đất. Rồi lại thêm cái tiểu bang chi mà đọc giống như là “Heo quay”. Không biết ở đó có heo quay thật hay không, mà tui cứ te te quen miệng uốn lưỡi đọc ra là heo quay không à. Mà hễ mở miệng ra nói trợt chân một cái là người chung quanh bụm miệng cười khiến tui quê một cục...

Dường như đã hiểu chuyện, ông Tư nhẩn nha ngồi xuống, lưng dựa vào thành ghế, một tay đưa ra, giáng điệu mời gọi,

— Bà, bà ngồi xuống ghế. Mần chi mà cứ đứng riết, bắt tui đứng theo như học trò gặp thầy đồ, khiến tui mỏi chân lắm rồi. Bà ngồi xuống ghế đi. Tui cũng có câu chuyện, muốn tâm sự cho bà nghe.

Đợi vợ mình, miệng đang nhai bỏm bẻm miếng trầu đỏ tươi, ngồi hẳn xuống ghế, ông Tư mới cầm ống vố lên trên tay, điệu bộ thong thả, nhưng giọng ông sắc gọn,

— Từ ngày tui với bà trở nên vợ chồng, có bao giờ tui ỉ thế là có danh phận, có học thức, rồi tui coi thường bà chưa? Bà cứ thiệt tình mà nói đi.

Ông Tư chưa dứt lời, dì Tư nói ngay,

— Tui hiểu. Tui biết…

Ông Tư đưa tay ra ngăn cản vợ,

— Khoan, khoan! Bà cứ trả lời tui đi, một tiếng thôi, tiếng sắt hoặc tiếng vàng, tiếng có hoặc tiếng không.

          Nghe giọng điệu của chồng dứt khoát, dì Tư lắc đầu liền,

          — Chưa! Tui biết ông đâu phải là con người như vậy.

          Chỉ đợi có thế, ông Tư nói tiếp,

          — Nếu vậy, vợ chồng mình ở với nhau bao nhiêu năm rồi, tui tưởng bà phải biết tánh của tôi chứ. Tui đâu phải là cây rau muống, rỗng ruột vô tâm, ăn ở vô nghì, tham phú phụ bần.

          Nói tới đây, ông Tư đưa lên miệng ống thuốc vố, rồi bật lửa. Khói thuốc thơm lừng bay quyện tròn căn phòng khách nhỏ. Yên lặng thưởng thức thuốc thơm trong vòng một vài giây, ông Tư đưa lên miệng chung trà, uống ực xuống cần cổ, rồi tiếp tục nói,

          — Thiên hạ ưa trọng người có quyền thế, có kiến thức, có danh phận. Nói chuyện với nhau người ta ưa lôi ra bằng cấp như là một cái thước đo để thẩm định giá trị của một người.

          Ông Tư hưỡn đãi,

          — Đó cũng là lẽ thường tình của nhân gian. Làm sao mà mình đi ngược lại được với dòng nước, dòng thủy triều của con sông cái lạch?

          Ông Tư chép miệng,

          — Nhưng tui thấy con người không phải chỉ là bằng cấp, hoặc là danh phận, hoặc là kiến thức, hoặc là nói theo kiểu của bà là rổn rảng rộn ràng tiếng tây tiếng u.

          Nhìn vợ, ông Tư tiếp tục,

          — Bà còn nhớ cái thời Đồng Minh và phe Trục đánh nhau, thời mà có cái máy bay phản lực của Nhật bị phe Đồng Minh bắn rớt xuống cánh đồng của thôn xóm, người ta rần rần kéo nhau đi coi. Bà còn nhớ chứ?

Dì Tư gật đầu,

— Tui nhớ! Làm sao mà quên được cái máy bay của Nhật đâm đầu xuống ruộng của thím Tám Vịt buổi chiều ngày hôm đó.

 Ông Tư giải thích,

— Phe Trục của Nhật hồi đó còn có Hittler. Mà nhắc tới tên của người này thì thiệt là ai tranh bá vương, ai tranh thiên hạ tài giỏi cho bằng Hittler. Nhưng người này có nhiều tài, mà lại vô tâm như rau muống. Cho nên bao nhiêu triệu triệu nấm mộ đã chất gò chất đống, bao nhiêu bia mộ đã lềnh khênh nổi lên trên khắp mặt đất, bởi sự xuất hiện của một người tài giỏi nhưng lại vô tâm như nhà lãnh đạo của Đảng Phát Xít Đức.

Ông Tư chỉ lên tấm hình của Mẹ Têrêsa treo trong phòng khách,

— Tuy nhiên trái đất này không phải chỉ có Hittler, nhưng còn có Mẹ Têrêsa, một người tầm thường, mà lại dư thừa một trái tim để chữa lành và lau khô những vết thương cùng với những hạt nước mắt do những người vô tâm gây ra. Mẹ Têrêsa có đậu bằng cấp gì đâu, nhưng mẹ lại có nguyên cả một trái tim, trọn vẹn một tâm hồn. Tui nhớ chuyện kể là có một người hành khất nghèo khổ, ghẻ lở đầy mình, ngày ngày sống lăn lóc trên những con đường phố què cụt của Ấn Độ. Ngày kia khi gặp gỡ người ăn mày, Mẹ Têrêsa mang ông ta về nhà băng bó vết thương, đổ cháo đổ thuốc cho người bất hạnh. Sau cùng người hành khất cũng qua đời. Nhưng trước khi lià trần, ông nói, “Tôi đã từng sống trên những con đường phố như một con thú, nhưng tôi đã được săn sóc và giờ đây nhắm mắt lại chết đi như một con người”.

Ông Tư tiếp tục,

— Cụ Nguyễn Du cũng nói, “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Ý cụ Tiên Điền muốn nói một người có tâm thương yêu, sở hữu một trái tim nhân hậu, thì người này bằng cả ba người có dư thừa tài năng cộng gộp lại.

Ông Tư giọng chùng xuống, miệng cười móm mém,

— Bởi bà nói, thì tui mới nhắc lại câu chuyện của hồi xưa. Mà chuyện này thì tình thiệt là tui cũng chưa bao giờ tâm sự với bà. Hồi đó, ba má, theo lời năn nỉ của tui, sai ngươi tới mối mai xin hỏi bà làm con dâu đâu phải bởi vì cái chi. Tui nhớ in tuồng đâu sau lần nhìn thấy bà đang đứng bên bụi tre hong tóc, tui đi về nhà hỏi han bà con làng xóm trong thôn, ai ai cũng nói trong làng mình có một cô thôn nữ vừa nết na lại vừa nhân hậu, vừa đẹp người lại vừa đẹp nết, người hành khất bước vào cửa nhà của cô này, không bao giờ bước ra tay không…

Ông Tư kết luận,

— Bà cũng biết tui đâu phải là hạng người vọc nước giỡn trăng. Tui may mắn được ba má cho đi ăn học trên Sài Gòn, nhưng ba má vẫn dạy tui là làm người là phải có cái tâm. Đừng tham phú phụ bần. Đừng ham tốt nước sơn nhưng lại mục nước gỗ. Ba má ăn hiền ở lành cho nên phước đức run rủi khiến tui gặp người vừa đẹp nước sơn vừa tốt nước gỗ, lại vừa có cái tâm. Tui hỏi bà, nếu vậy, mần chi mà tui không te te chạy về nhà năn nỉ ba má nhờ người mai mối mang trầu cau sang xin gặp tía má ở bển.

Ông Tư nhỏ nhẹ với vợ,

— Bà không biết đọc tin tức, không nghe được đài Mỹ, thì hỏi tui, tui nói cho bà nghe. Mà nếu nói không đúng, thì tui giúp bà, sửa lại, nói cho đúng. Có “chiện” chi đâu mà mắc cở. Cái tiểu bang mà bà đọc là “Mỹ nó sợ ta” là tiểu bang Minnesota, tiểu banh lạnh nhất của Mỹ đó. Còn tiểu bang Heo quay là tiểu bang Hawaii. Tiếng Việt có người đọc là Hạ Uy Di. Nhưng bà đọc heo quay thì cũng đâu có sai, bởi người Hạ Uy Di họ hay quay thịt heo ăn chiên dòn lắm.

Ông Tư chép miệng, đổi sang giọng điệu bông lơn,

— Mà nếu có ai trong Hội Cao Niên cười ngạo tiếng Anh của bà, cho họ cười hở mười cái lợi trống hơ trống hoắc luôn.

 

Lời Nguyện

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con một quả tim bằng xương bằng thịt biết rung động, và một khả năng nhạy bén nhận ra khi nào trái tim của chúng con không còn rung một tần số, uốn một nhịp điệu với trái tim khốn khó của nhân loại.

Nguyễn Trung Tây, SVD 

 go top

 

trang chính |   lời giới thiệu  |   sống lời chúa  |   truyện ngắn |  liên lạc

copyright © 2004 nguyentrungtay