□
Nguyễn Trung Tây
truyện ngắn
quán trọ cây thầu dầu
□ Quán trọ
Cây Thầu Dầu nói về một ngôi nhà trọ và những sinh hoạt bất
thường của một ngôi làng.
Hồi đó
người ta đồn rằng, “Thầu dầu mọc giữa tháng Ba, Là điềm ấu chúa
sinh ra thái bình”. Cây thầu dầu đã mọc rồi, hơn một năm rồi,
nhưng thái bình vẫn chưa xuất hiện. Trong khi đó, những người
hồi xưa đã bỏ đi, bây giờ từ bốn phương trời cứ tấp nập kéo về
đe dọa tới đời sống vốn đã thanh bình ngàn năm của dân làng.
Cách uống rượu như uống nước, đốt tiền như đốt giấy vụn của
những người khách không mời mà tới khiến hương chức trong làng
lo sợ cho số phận của những thiếu nữ ngây thơ mới lớn, những
người đàn bà nhẹ dạ cả tin…
__________________________
Lời
dẫn: Đức
Giêsu sinh ra tại Bethlehem, xứ Judea của Do Thái. Vào những năm thứ nhất Công
Nguyên, Do Thái thuộc về quyền bảo hộ của đế quốc La Mã… Thời đó hoàng đế Caesar
Augustus vừa mới ban hành lệnh kiểm tra dân số trong toàn đế quốc. Theo như sắc
lệnh, mọi người phải quay về ghi danh tại nguyên quán…
Hơn
một tháng rồi, quán trọ Cây Thầu Dầu bỗng dưng rộn ràng bước
chân lạ mặt tứ phương.
Đúng vậy, cứ liên tục như thế, từ
sáng tới chiều, từ chiều tới nửa đêm, hơn bốn tuần rồi, thị trấn
Bethlehem bỗng dưng rộn ràng bước chân ngàn khuôn mặt lạ. Những
người khách này nguyên gốc Do Thái, nhưng có người nói tiếng Do
Thái pha giọng mũi nghèn nghẹt tiếng Hy Lạp hoặc giọng cổ vướng
nghẹt tiếng Ba Tư, nhiều người không đọc được bảng tên chỉ đường
ngoại trừ ngọng nghịu câu chào: Shalom. Nhưng thật ra,
tất cả những người khách lạ mặt này đều có liên hệ mật thiết với
Bethlehem, bởi tổ tiên mười mấy đời của họ đang nằm an nghỉ tại
những ngôi mộ đá đục sâu trong rặng núi.
Mà lạ lắm, mặc dù xuất hiện với nhiều màu da, khác tiếng nói,
ngàn khuôn mặt lạ tứ phương đều chia sẻ chung với nhau hai đặc
điểm nổi bật; mặt lúc nào cũng đỏ bởi rượu, và cứ hễ mở miệng ra
là chửi tục.
Ngày nào cũng thế, khách nằm ngủ thẳng cẳng cho tới mười hai giờ
trưa mới chịu gạt mền sang một bên. Chui ra khỏi giường, khách
vốc nước rửa mặt, xúc miệng ồng ộc. Xong xuôi đâu đó, tưởng
khách đi đâu, hóa ra lại bước thẳng một mạch tới quán rượu. Nhậu
xong, uống xong, khách không về quán trọ, nhưng lại dẫn nhau ra
giếng nước đầu làng. Trên đường đi, khách nhổ xoèn xoẹt nước
miếng và đờm xanh xuống mặt đường. Có khách say quá, xiêu vẹo
gục té ngay bên lề, miệng nôn thốc tháo, mùi ói tanh lợm. Có
người cất giọng hát, những bài hát lẳng lơ lời ca dâm tục. Âm
thanh phát ra từ cuống họng nghe bền bệt bởi hơi thở nặng nề sặc
sụa mùi rượu vang.
Thôn Bethlehem đang thanh bình, trên có thầy Rabbie và hội đồng
hương chức, dưới là dân làng, người người ai ai cũng một lòng.
Nhưng tự dưng bởi những người khách lạ, Bethlehem tự động tách
ra hai phe, một phe cổ võ, phe kia chống đối.
Phe cổ võ bao gồm chủ quán rượu, quán ăn, và quán trọ. Gặp
khách, ông chủ nào mặt cũng tự nhiên hớn hở hẳn ra, miệng cười
toe toét. Mà cũng khó trách, bởi Bethlehem, đất chó ăn đá gà ăn
muối từ thời tạo thiên lập địa. Người cả nước vẫn đồn miệng,
“Cái đất Bethlehem đó, xin lỗi miếng đất chó iả đó, có cho cũng
chả thèm”. Cho nên chẳng lạ chi, quán trọ Bethlehem bình thường
vắng hoe ngoại trừ ruồi xanh sa mạc bay lăng quăng. Thế đấy,
không ai ngờ, giờ này tự nhiên Bethlehem hóa ra không còn phòng
trống. Quán trọ nào cũng treo bảng “Cạn phòng” hoặc “Hết chỗ”.
Đặc biệt nhất là tại những quán rượu, ngày cũng như đêm quán nào
cũng nồng nặc mùi người và mùi rượu. Chủ quán Bethlehem, nguyên
cả tháng rồi, chục người là đủ cả chục, ông nào cũng hơn hớn vui
tươi. Đương nhiên, thì cũng bởi vì tiền. Tiền nở nụ cười. Tiền
tươi con mắt. Tiền cất vào kho. Mà đây không phải là tiền kẽm
tiền xu đâu nhé. Cái thứ tiền đó giờ có cho không, người nào
cũng bĩu môi, giơ tay quẳng bỏ ném thẳng vào xó nhà. Bây giờ là
người ta chỉ còn nói đến tiền bạc tiền vàng. Mà lạ lắm, những
người khách phải quay về Bethlehem theo lệnh kiểm tra dân số
không hiểu sao ai cũng giàu có. Tiền đếm mỏi tay. Có người còn
xách theo trong mình nguyên cả gói tiền bạc khắc hình hoàng đế
Alexander và nhiều đồng tiền vàng Caesar Augustus. Một ngôi nhà
xập xệ trong thôn trị giá trăm đồng tiền bạc. Ngôi nhà mắc nhất
nằm ở cuối thôn là hội đường Isaiah trị giá tới nghìn đồng tiền
vàng Caesar. Thế mà khi bước vào quán rượu, khách quẳng ra bàn
cả đống tiền vàng. Tiền vàng rớt xuống đất kêu coong coong nghe
vui tai, âm vàng ngân vang rung động lòng người. Nếu ưng ý được
lòng khách, bồi bàn còn nhận được nguyên một đồng tiền thưởng
bằng bạc. Cứ thế, làm chi bồi bàn không cất công phục vụ cúc
cung. Muốn gì được nấy. Chủ quán chưa có dịp mở miệng năn nỉ
công nhân ở lại làm thêm, bồi bàn đã nhanh nhanh chạy đi gặp
chủ, gãi gáy cầu tài, xin làm thêm giờ phụ trội.
Phe chống đối thì chẳng ai xa lạ. Chưa nói, nhiều người đã biết
mặt biết tên. Mà cũng khó trách thầy Rabbi Daniel và hội đồng
hương chức trong thôn, bởi Bethlehem mặc dầu đất cày lên sỏi đá,
nhưng thiếu nữ Bethlehem từ lâu vẫn nổi tiếng công dung ngôn
hạnh. Thì đấy vua David đã từng thưởng cho làng bốn chữ khắc
vàng, Tiết Hạnh Khả Phong. Cho nên không lạ chi từ bao lâu nay,
người làng chưa bao giờ phải nhặt đá ném chết những người con
gái một phút nhẹ dạ. Cổng làng, từ bao lâu nay, đất vẫn đen thơm
mùi đất lành, đá vẫn sạch không vương mùi máu tanh.
Thế đó, mới chỉ có mắt trước mắt sau, ngay khi bóng dáng khách
tứ phương vừa đổ xuống nườm nượp ở cổng làng, những con kên kên
phục vụ lính tuần La Mã ở làng bên đã nhấp nhổm ngóng đầu quay
về Bethlehem quan sát tình hình. Ba tuần trước, mặc cho những
lời cảnh cáo xa gần, cô gái giang hồ khét tiếng trong vùng thản
nhiên gõ cửa căn nhà treo bảng cho thuê trong thôn.
Cô gái vừa dọn vào, một tiếng sau khách khứa đã cửa trước ra vào
cửa sau tấp nập.
Được đúng hai ngày, nhà thổ bừng bừng phát hỏa!
Nửa đêm về sáng, lửa bốc cháy từ cửa gỗ phòng khách, lửa liếm
lem lẻm vách gỗ mặt tiền, rồi theo đà gió bừng sáng bốc ngọn vút
lên cao. Nhờ sự can thiệp của bao nhiêu thân chủ đang ngồi uống
rượu chờ đợi tới phiên, căn nhà trọ còn đứng vững, mặc dù mặt
tiền đã bị cháy đen nham nhở. Mật thám kéo tới lập biên bản điều
tra, đặt nghi vấn nhà bị đốt.
Sau vụ hỏa hoạn, người phụ nữ buôn hương không chịu thua. Cô nhờ
người sơn phết qua loa mặt tiền rồi lại tiếp tục hành nghề như
không hề có chuyện chi xảy ra. Thế là khách khứa lại tấp nập.
Tiếng cười ngân vang từ xế chiều cho tới nửa đêm về sáng. Người
ra người vô, nhà thổ lại rộn ràng.
Được khoảng một tuần.
Vào một buổi sáng sớm tinh mơ, Bõ già trông coi hội đường
Isaiah, ngày nào cũng dậy thật sớm đi tới hội đường mở cửa, đốt
nến chuẩn bị cho giờ kinh sáng, bỗng hét to như bị ma rượt khi
đi ngang qua nhà thổ. Người trong thôn chạy tới chỉ để kịp nhìn
thấy cánh cửa lớn căn nhà mở tung để lộ ra hai xác người đang
treo lủng lẳng ngay trên xà ngang, một của cô gái buôn hương,
một của người khách.
Bởi hai thây ma treo lủng lẳng, Sở Mật Vụ La Mã lại tấp nập kéo
tới. Thầy Rabbi Daniel, hội đồng hương chức, và cả Bõ già lần
lượt bị gọi lên thẩm vấn. Nhưng cũng như lần trước, nhân viên
mật vụ vẫn không kiếm ra thủ phạm. Rốt cuộc, Sở Mật Vụ đóng hồ
sơ, lần lượt leo lên lưng ngựa bỏ đi.
Nhưng bắt đầu từ ngày hôm đó, khoảng nửa đêm về sáng tự nhiên
căn nhà bỗng chập chờn những bóng ma. Tối tối có người thấy hai
xác người, một của đàn bà một của đàn ông hiện ra treo tòng teng
lơ lửng. Có người nửa đêm về sáng nghe thấy tiếng hú nghe rõ mồn
một lanh lảnh từ trong căn nhà còn loang lổ vết cháy. Vào đêm
sáng trăng, có người còn thấy bẩy hạt máu đỏ từ trên xà ngang
nhỏ xuống nền đất viết thành chữ Nhân thật rõ nét trong tiếng Hy
Lạp.
Người trong làng xì xào hỏi nhau tại sao lại không là ba hay là
bốn nhưng lại là bẩy? Mà tại sao bẩy hạt máu đỏ đó lại hòa với
nhau viết nên một chữ Nhân? Chữ Nhân có nghĩa là chi trong
trường hợp này? Tại sao lại không viết chữ Nhân trong tiếng Do
Thái nhưng lại là chữ Hy Lạp? Nghe vậy, có người quay lại nhắc
nhở, “Bộ quên rồi sao? Ông bà mình có câu, ‘Giết bẩy bò mới đủ
lễ tế’. Mà, nè, cũng đừng có quên ả này không phải Do Thái,
nhưng người Syria. Cô ta nói tiếng Hy Lạp, đâu có biết tiếng Do
Thái”.
Thằng Judas mồ côi mười sáu tuổi chăn chiên trong làng phá phách
ma chê quỷ hờn. Sểnh ra là ăn cắp. Lơ đãng một chút là mất đồ.
Cuối tuần nó tếch sang thôn bên cạnh, đứng đường dẫn mối cho
những con kên kên. Chủ bầy chiên có lần mắng nó tật hay ăn cắp
vặt. Nó tức, ban đêm gọi bạn bè tới túp lều nằm giữa cánh đồng,
cắt cổ một con chiên đực nướng thịt ăn. Thế mà nửa đêm, không
biết để làm chi, dám mò tới căn nhà ma. Sáng hôm sau, lại một
lần nữa, đi ngang qua, ông bõ thấy nó oặt ẹo nằm trên nền đất
hoang của ngôi nhà ma, mặt bầm tím, tay chân như không còn
xương. Mang nó về nhà, người ta đổ cháo nóng vào miệng, giật tóc
mai hú gọi ba hồn chín vía. Ba ngày sau thằng Judas mới dần dần
hồi tỉnh, nhưng tay chân quặt quẹo mềm oặt. Hỏi chi, nó cũng
không nói, mặt tái xanh lét. Thế là những người đàn bà trong
thôn ồn ào lên. Họ kháo với nhau, “Chết rồi! Vậy là đã ứng
nghiệm lời nguyền của bẩy giọt máu viết ra một chữ Nhân. Thằng
Judas là nạn nhân đầu tiên. Trong làng mình, ai sẽ là người thứ
hai?”.
oOo
Đêm nay tối hai mươi bốn cuối tháng Mười Hai. Đã gần mười một
giờ đêm, chỉ còn khoảng một tiếng đồng hồ nữa thôi bầu trời đêm
đen Bethlehem sẽ chuyển mình bước vào nửa đêm.
Trời khuya, tiếng cú kêu dội vang xa từ căn nhà thổ bỏ hoang vẫn
không át được tiếng la hét cười đùa vang dội từ những quán rượu.
Như mọi đêm khuya, tiếng nhạc tiếng đàn tiếng hát lẫn hơi thở
sặc sụa mùi rượu lại vẫn ồn ào len lỏi qua những khung cửa sổ tò
vò.
Nhìn bầu trời đen kịt cuối năm, chủ nhân quán trọ Cây Thầu Dầu
tự dưng ngáp dài. Mấy tuần lễ liên tục rồi, Joshua đã phải lắc
đầu lia lịa từ chối từng người, bởi mọi phân vuông quán trọ đều
đã được tận dụng tối đa. Bàn ghế căn phòng khách được rời đi lấy
chỗ cho hơn ba mươi người. Riêng căn phòng chứa đồ tối tăm đã
được dọn dẹp cho mười hai người khách đàn ông nằm xếp lớp cá
hộp.
Thấy quán trọ sơn phết nổi bật hàng chữ “Cây Thầu Dầu”, người
khách phụ nữ đến từ Athens tò mò hỏi,
—
Lạ lùng hén! Đất này đâu phải đất thầu dầu, mà tại sao cắc cớ
đặt tên quán trọ Cây Thầu Dầu?
Ông khách đến từ Tarsus đứng gần đó gật gật đầu góp ý,
—
Ừ, đúng đó, tại sao không đặt tên Quán trọ Nhà Bánh Mì, bởi vì
Bethlehem có nghĩa là nhà bánh mì kia mà?
—
Tui thì thiệt tình cũng hổng có rành, nhưng nghe nói, làng này
có một thời bị sư tử sa mạc kéo về từng đàn cắn xé giết chết
nhiều người. Hồi đó ta nói cứ mười người chết bẩy còn ba. Cho
nên dân trong thôn nhiều người bỏ đi tha phương cầu thực.
Bethlehem có một thời hoang vắng như nhà ma. Về sau, không hiểu
tự đâu lại lòi ra câu vè, “Thầu dầu mọc giữa tháng Ba, Là điềm
ấu chúa sinh ra thái bình”. Cụ tiên chỉ chặn thằng nhỏ chăn
chiên lại hỏi gốc tích. Thằng nhỏ nói có cụ ông tóc trắng như
cước, tay chống gậy gỗ hiện ra giữa trời dạy câu vè, dặn phải
học thuộc. Gặng hỏi tên tuổi ông cụ, thằng bé gãi gãi đầu nói,
“Cụ nói có thời ta là hoàng tử Ai Cập”. Mấy trăm năm đã trôi
qua, tháng Ba năm ngoái cổng làng tự nhiên nứt ra một cây thầu
dầu, cành lá xum xuê che mát cả một góc trời. Cả làng thế là hồi
hộp chờ đợi giây phút ấu chúa ra đời. Năm ngoái lúc cụ thân sinh
chết đi, để lại cho tui quán trọ, tui đặt luôn tên quán Cây Thầu
Dầu.
Ông chủ quán trọ chắt lưỡi,
—
Nhưng hơn một năm rồi, ấu chúa đâu chẳng thấy, nhưng cả tháng
rồi, con cháu thôn làng bỏ đi, nay quay về, tưởng để làm vương
làm tướng chi, hóa ra cũng chỉ quanh quẩn ngày quán rượu đêm nhà
thổ. Thiệt tình…
Người phụ nữ thắc mắc,
—
Ủa! Tưởng là từ sau vụ cháy nhà, rồi hai xác ma treo trên sà
ngang, làng đã yên ổn rồi chứ...
Chủ quán Cây Thầu Dầu chép miệng thở dài,
—
Thì đúng là như vậy. Ta nói làng mình yên, nhưng những làng
chung quanh đâu có yên. Kên kên không qua. Nhưng xác ma bên đây
lại rầm rập kéo sang bên đó để kên kên rỉa. Thiệt tình!
Ông khách có vẻ hiểu biết,
—
Sách ngôn sứ Micah viết là ấu chúa sẽ sinh ra ở thôn Bethlehem
đấy. Ông chủ có biết chuyện hay không?
Chủ quán Cây Thầy Dầu nhỏ giọng lại,
—
Có, tình thiệt là tui có nghe. Thầy Rabbi Daniel ổng còn nói khi
ấu chúa ra đời, sao chổi sẽ xuất hiện ngay giữa trời, què cụt lũ
lượt đứng dậy chạy như hươu trên đồng cỏ cho mà coi...
Ông chủ quán che miệng nói thì thào,
—
Mà nói cái này chỉ mấy người mình biết với nhau thôi đó nghen!
Nghe rồi bỏ qua. Đừng có xì xào lôi thôi, tới tai mã tà lính kín
thì khổ cho cả đám. Tui nghe nói khi ấu chúa sinh ra, ổng sẽ
lãnh đạo người mình, đánh đuổi cái đám giặc La Mã chạy té tát
cho mà coi!
Người phụ nữ như không mặn mà với chuyện thời sự, cô lại đổi đề
tài,
—
Tôi nghe nói có thằng bé nửa đêm về sáng chui vào trong ngôi nhà
ma ăn cắp đồ rồi bị thanh niên Tự Vệ đập gãy tay gãy chân. Có
đúng không?
Trời Bethlehem chuyển mình gần nửa đêm. Xa xa tiếng cú từ ngôi
nhà thổ tiếp tục ngân vang. Chủ nhà trọ Cây Thầu Dầu giơ tay che
miệng ngáp dài. Nhìn ra ngoài khung cửa, Joshua quyết định vặn
chìa khóa hòm tiền, óc nghĩ tới những ly rượu vang thơm mùi tại
quán rượu ngay bên cạnh. Nhưng rồi anh khựng lại, người xụi lơ,
miệng thở dài, bởi chợt nhớ tới thằng Benjamin lại mới trở chứng
đau nặng.
Gần một tuần rồi, người thằng nhỏ bỗng dưng trở chứng nóng hầm
hập như than hầm trong lò bánh mì. Bao nhiêu thang thuốc, bao
nhiêu tiền bệnh đã đổ vào, nhưng nhiệt độ trong người thằng bé
vẫn không giảm. Hai hôm trước, thằng nhỏ lên cơn động kinh, tay
chân giật cong lại, miệng méo thét không ra lời, mắt trợn tròn
trắng. Joshua vội vàng vắt giò lên cổ chạy đi kiếm thầy. Nhận ra
khuôn mặt hốt hoảng chủ quán trọ, thầy Levi cuốn lên người miếng
khăn choàng đầu, chạy tới quán trọ. Ông bắt mạch thằng nhỏ, rồi
lấy dầu thầu dầu loại thượng hảo hạng của Ai Cập chuyên dùng ướp
xác để cạo lưng cho thằng bé. Năm phút sau, thằng Benjamin mắt
thôi trợn trắng, hơi thở trở lại điều hòa. Thầy Levi còn bốc cho
thằng Benjamin một thang thuốc, dặn nấu cạn thành ba chén, ngày
uống ba lần.
Sau một ngày thấy bệnh tình thằng Benjamin không thuyên giảm,
Joshua đã bàn với vợ sáng sớm ngày mai sẽ thuê con ngựa Ba Tư
chở thằng Benjamin lên kinh đô Jerusalem chữa bệnh. Ở đó, chú
của anh quen biết nhiều với những thầy lang học được nghề của
những ông thầy thuốc magi của vua Pharaoh Ai Cập. Nghe
nói có ông thầy đã học được cả toa thuốc đặc biệt chỉnh xương
của người Ba Tư. Người gặp tai nạn, gãy chân què cẳng, mang tới,
thầy thuốc bốc cho những vị thuốc vừa uống vừa xoa. Ngày hôm
sau, bệnh nhân ngồi dậy mạnh sân sẩn, đi đứng như chưa bao giờ
gặp nạn.
Nghĩ tới đây, Joshua cương quyết đứng dậy tính khóa lại cánh cửa
gỗ quán trọ. Nhưng Joshua bỗng nhận ra tiếng con LuLu sủa vang
vang. Joshua khựng lại, nghĩ tới thầy Rabbi Daniel và đoàn Thanh
niên Tự Vệ. Nhưng tiếng chó sủa càng trở nên gắt gỏng tựa như
tiếng chó sủa bóng ma. Joshua nhíu mày nhìn ra ngoài bóng đêm.
Nếu là thầy Rabbi Daniel đi tuần ban đêm với đoàn thanh niên Tự
Vệ, con LuLu đã không sủa, bởi con LuLu thì còn lạ chi với thầy
Rabbi.
Nhưng thật là bất ngờ, tiếng chó sủa bỗng ngưng bặt. Đêm đen
bỗng như đông lạnh nghe rõ tiếng gõ chầm chậm của vó lừa trên
con đường đá sỏi. Joshua nhíu mày nhìn lên...
Trước mặt Joshua mờ mờ xuất hiện hai bóng hình. Người đàn ông
ánh mắt mệt mỏi, vành râu quai nón rậm rạp bao quanh quai hàm,
khoảng cỡ hai mươi. Người kia dáng nhỏ bé che mặt kín mít trong
miếng khăn xanh che đầu ngồi trên lưng lừa. Người đàn ông ngón
tay thô tháp khô cứng vẫn cầm dây cương lừa, tiến lại quầy, cất
giọng, âm thổ phương Bắc Galilee,
—
Chào ông chủ quán! Không dám dấu chi quan bác, hai vợ chồng nhà
em mới từ ngoài Bắc lặn lội đường xa tới đây theo lệnh kiểm tra.
Nhờ quan bác thương tình, kiếm cho hai vợ chồng chúng em căn
phòng… Dạ, em đội ơn quan bác.
Nhìn người đàn ông, chủ quán Cây Thầu Dầu làm điệu chép miệng,
nói ngay,
—
Tui biết hai vợ chồng ông anh lặn lội đường xa, bây giờ đã mệt
mỏi lắm rồi. Nhưng thiệt tình là quán trọ không còn phòng trống
nữa.
Nhưng người đàn ông không bỏ cuộc, anh xuống giọng năn
nỉ, tay gãi gãi gãi trán, tay chỉ người vợ vẫn ngồi trên lưng
lừa, đội khăn xùm sụp che kín mặt,
— Xin quan bác thương tình. Giờ trời đã quá khuya, nửa
đêm về sáng, mà vợ em lại bụng mang dạ chửa. Xin quan bác
thương!
Chỉ ra ngõ vắng dài sâu hun hút thăm thẳm bóng đêm chập chùng,
người chồng như muốn bật khóc,
—
Nguyên cả canh giờ rồi, em gõ không biết bao nhiêu là cánh cửa.
Nhưng ai cũng lắc đầu quầy quậy. Bác ơi, chết thiệt, đất khách
quê người, giờ em cũng không biết đi đâu…
Ông chủ quán nhìn ra để rồi nhận thấy cái bụng to kềnh
càng của thiếu phụ ngồi trên lưng lừa. Chủ quán lúng túng, khó
chịu bởi nhận ra tình trạng khó xử bị cài đặt. Thà là không
biết. Chủ quán chép miệng, bây giờ bỏ thì thương mà vương thì
tội. Joshua nghĩ tới căn phòng chứa đồ với mười hai mạng người
đàn ông chen chúc. Nhưng sao mà được, bởi hai người khách là một
cặp vợ chồng. Nhét anh chồng vào cũng được, nhưng còn chị vợ
bụng chửa vượt mặt như thế kia thì nhét vào chỗ nào trong cái
hộp cá mòi xếp lớp đó?
Nhìn ông chủ quán trọ, người chồng như cá chết cạn cố
gắng chòi chòi đập qua đập lại,
— Hay là quan bác biết chỗ nào còn trống, bác nói cho
vợ chồng em một tiếng, em sẽ đi ngay... Vâng, em đi ngay, không
dám làm phiền bác nữa…
Joshua nhớ lại cái thời mới lập gia đình. Hai vợ chồng
son hồi đó sao mà nghèo, nghèo như rẻ rách, nghèo đến nỗi bánh
mì đen giá một xu cũng không có mà ăn. Cho nên cái lần mà vợ
bụng mang dạ chửa, Joshua vẫn phải cắn răng để vợ ngày ngày còng
lưng mót nhặt những cọng lúa mì mang về nhà làm bánh mì nướng.
Cũng bởi lao tâm lao lực, thằng Benjamin con so hồi đó sinh sớm
hai tháng. Nhìn thằng con giờ quặt què đau yếu, Joshua vẫn còn
ngậm ngùi cay đắng...
Nhìn ánh sao băng sáng ngời, vút chạy ngang, kéo đuôi dài, rồi
biến mất sau rặng núi, ông chủ quán Cây Thầu Dầu quyết định,
— Thôi, thì như thế này. Tui biết có túp lều nằm giữa
cánh đồng. Giờ tui đề nghị như thế này, tui sẽ dẫn hai vợ chồng
ông anh tới đó ngủ tạm qua đêm, một đêm nay mà thôi. Ngày mai vợ
chồng tui có việc phải lên kinh đô, căn phòng bỏ không. Trưa
ngày mai, mời vợ chồng ông anh quay lại quán, ở tạm...
Trước lời đề nghị, đôi chân mày rậm và vầng trán rộng
của người đàn ông dãn ra từng thớ thịt. Thở dài nhẹ nhõm, người
chồng nói ngay,
— Vâng, vâng! Thế thì nhất. Quan bác tốt quá. Trời cao
phù hộ vợ chồng quan bác. Giờ quan bác dậy làm sao, em xin nghe
theo làm vậy. Vâng, em nhờ quan bác chỉ đường.
Ông chủ quán Cây Thầu Dầu đứng dậy,
— Vậy thì mình đi ngay. Gần đây lắm. Chỉ khoảng nửa
tiếng lội bộ mà thôi…
Ông chủ quán nhấc cao ngọn đèn dầu, bước tới, ánh lửa
hắt hiu soi bóng ba người và chú lừa đổ dài trên con đường lộ
dẫn ra đường ruộng.
Trời Bethlehem không một ánh trăng. Đêm nay cuối tháng
Mười Hai, trời lạnh thổi gió rét buốt căm căm. Joshua nhìn lên
nền trời đen như mực. Một vài tiếng chó sủa xa xa lay động màn
đêm. Một vài cánh dơi xào xạc khua động đêm tối. Tiếng cú nhà
thổ tiếp tục vang dội ngân xa. Joshua nhớ tới căn nhà ma. Anh
thắc mắc không hiểu thằng Judas rắn mặt bị ma hớp hồn hay nó bị
thầy Rabbi sai thanh niên Tự Vệ đánh què tay gãy chân như lời
đồn. Nhớ tới thằng Judas, ông chủ quán Cây Dầu lại nhớ tới đứa
con trai ốm yếu bệnh tật. Ngày mai, vợ chồng anh cũng sẽ lọc cọc
dẫn theo thằng bé què quặt ngồi trên lưng ngựa. Đường lên kinh
thành Jerusalem có nhanh lắm thì cũng phải là hai ngày. Nhớ tới
kinh thành Jerusalem giờ này ngập bóng binh sĩ La Mã, ông chủ
quán lắc đầu. Nhìn lên trời cao, chủ quán trọ Cây Thầu Dầu lẩm
bẩm câu đồng dao, “Thầu dầu mọc giữa tháng Ba, Là điềm ấu chúa
sinh ra thái bình”. Joshua chép miệng, “Thầu Dầu đã mọc giữa
tháng Ba hơn một năm rồi. Ấu chúa ở đâu mà sao vẫn chưa ai
thấy?”.
oOo
Ba ngày rồi, Bõ già đau nặng. Cháo loãng đổ vào miệng không trôi
lọt qua hàm răng ngậm chặt cứng, nhưng sui sủi bọt bong bóng hai
bên mép. Mắt Bõ mở lớn trắng đùng đục, ruồi lằng đậu đen bám chi
chít. Bõ ho sù sụ, hôi thối bay nồng nặc bầu không khí... Thầy
Rabbi nói nhỏ với hội đồng hương chức chuẩn bị chuyện hậu sự cho
Bõ.
Thế mà sáng nay, trời vừa hừng sáng, Bõ tự nhiên ngồi bật dậy,
lưng thẳng như cây thước. Bõ mở mắt nhìn qua khung cửa, rồi thật
bất ngờ, phóng chạy trên con đường làng như bị ma nhập.
Tới hội đường Isaiah, Bõ dừng lại, hai cánh tay khẳng khiu đẩy
tung cửa sắt nặng nề. Chạy sầm sập vào khu chánh điện khói hương
nghi ngút giờ kinh sáng, Bõ dừng lại, nhìn thầy Rabbi, nhìn mọi
người, tay chỉ ra hướng sân hội đường, tay chỉ lên trời, miệng ú
ớ phát không ra được một âm.
Mọi người ngưng lại lời kinh, kinh ngạc trợn tròn mắt
nhìn Bõ già. Thầy Daniel khoát tay ra hiệu chấm dứt giờ kinh.
Người người ùn ùn kéo nhau theo sau Bõ già đi ra sân. Tới sân
gạch đỏ, không ai bảo ai, người người đưa mặt ngẩng lên nhìn.
Thầy Rabbi cũng nhìn theo để rồi ngỡ ngàng nhận ra bầu trời xám
xịt mây đen mùa đông đang vặn mình chuyển đổi sang màu đỏ ối.
Trên cao, ngôi sao chổi sáng rực đang xoay tròn tít những vòng
quay. Nhiều người trên sân đền thờ kinh hãi rú lên, có người quỳ
xuống đấm ngực, có người nước mắt lăn dài trên khuôn mặt, có
người sụt sùi câu kinh.
Còn đang ngơ ngác dõi nhìn hiện tượng thiên nhiên lạ
kỳ, mọi người giật mình nhận ra lại thêm những tiếng chân chạy
sầm sập trên con đường làng. Tưởng ai, hóa ra đó chính là cô gái
đến từ Athens. Dừng lại tại sân hội đường, cô gái, tay ôm ngực
thở dốc, tay kia chỉ về hướng quán trọ Cây Thầu Dầu,
— Thằng Judas, cả thằng Benjamin nữa… Chạy tới quán
trọ Cây Thầu Dầu mà coi! Cả hai đứa nó đang rượt nhau chạy rần
rần ở ngoài sân kia kìa! Nhanh nhanh lên, chạy tới mà coi…
Người người ngơ ngác nhìn nhau,
rồi lại nhìn lên bầu trời vẫn đang ngời sáng ngạn vạn hào quang.
Thanh niên Tự Vệ thì thào nói với nhau tối hôm qua, vào lúc nửa
đêm trong khi đi tuần, họ nghe thấy tiếng hát văng vẳng từ trên
cao.
Vẫn
không ai hiểu chuyện gì đã xảy ra, có lẽ ngoại trừ đôi vợ chồng
quê mùa đến từ thôn làng Nazareth của Bắc Galilee.
□
Nguyễn Trung Tây Melbourne, Tháng Mười Một, 2006